Tuesday, October 26, 2021

Làm sao để Buông xả, Dừng lại & Tập trung vào Hiện tại?

Trước đây mình có nêu ra 4 điểm đại cương trên con đường giải thoát. Nay mình nói rõ hơn về các bước đi trên con đường đó, nhờ duyên một bạn hỏi mình làm sao để tập trung vào here-now (tại đây - bây giờ).

  1. Hễ còn chưa thấy khổ, hoặc khổ chưa đủ vì còn nhiều vốn (phước, may mắn, vật chất, năng lượng, sức lực, hỗ trợ từ bên ngoài,...) thì còn phải chạy, phải phân tán chứ không thể nào dừng lại và tập trung được. Đó là vì mình được trao vốn, năng lượng đó là để cày cuốc, để chạy, để phân tán cái năng lượng đó ra, là nghĩa vụ của mình.
  2. Khi đã thấy "đủ rồi", thực sự khao khát "mình tha thiết muốn dừng lại" (chứ ko phải chỉ "khổ quá, làm sao để mình hết khổ... lẹ lẹ!"), thì mình mới bắt đầu có duyên để buông xả. Nhưng nghiệp (thói quen) lâu đời của mình khiến mình càng thấy khổ càng muốn chạy trốn, càng tìm đủ mọi thứ khác việc khác đối tượng khác để hướng tới, để lảng tránh đi để che lấp đi cái nỗi khổ đó, chứ chưa thể dừng lại, chưa thể tập trung được. Đó là "bản năng" tránh né nỗi đau của chúng ta. Nhưng nếu ở đây mình có ý thức thì hãy bắt đầu tập luyện:
    1. Trước hết là tập ghi nhớ những điều tiêu cực, ghi ra giấy, nhật ký, hay làm dấu ấn riêng gì đó của mình để "oánh dấu trong tâm" mỗi lần trải qua cảnh khổ, kiểu như tù nhân mỗi ngày gạch lên tường 1 gạch vậy. Đó là bước đầu chuyển thói quen "xấu che tốt khoe, thích sướng ngại khổ, ôm tích cực không chấp nhận tiêu cực" sang "chấp nhận, đối diện với tiêu cực, biến thất bại thành mẹ thành công". Tại sao những điều tiêu cực lại có ích? Vì chỉ có những lúc ta đau, khổ, bệnh, buồn, sợ, thất bại, thất vọng,... là lúc ta có duyên để tập trung vào here-now để thấy những sự thật trần trụi luôn bị ẩn giấu bởi những lớp vỏ bọc tích cực (mình hay, mình giỏi, mình mạnh mẽ, mình thông minh, v.v.) Tại sao cần phải thấy những sự thật trần trụi đáng ghét đó? Vì nó không những là chìa khóa để gỡ những nút thắt trong những vấn đề ta gặp phải mà nó còn là chìa khóa mở ra một tầng hạnh phúc cao hơn (nên được gọi là "mẹ thành công").
    2. Tiếp theo là tập nhận biết những duyên (hoàn cảnh, tác nhân bên ngoài) khiến cho mình thấy khổ, để mình chủ động tránh bớt ra, và để chủ động đối diện với hạt nhân "khổ" ngay trong mình. Việc tránh ra này gọi là "giới", là cái "hàng rào" cản bớt gai góc bên ngoài quẹt vào "vết thương" bên trong mình để mình quay vô chăm sóc "vết thương" đó. Hãy nhớ "giới" là tránh "chướng duyên bên ngoài" chứ ko phải chạy trốn cái "nhân bên trong" (theo thói quen vốn có) nhé. Nhưng khi đang ở dưới "vực thẳm" của khổ đau đó thì ta cũng chưa đủ định lực để đối diện được đâu, nếu có cố "cắn răng chịu đựng" thì mình cũng chỉ đè nén nó chứ chẳng phải là đối diện. Thời điểm vàng để tập đối diện là ngay khi mình vừa mới "ngoi lên" nhưng trước khi bị cuốn đi vào những việc khác.
    3. Khi đã bắt được "thời điểm vàng", ta tập đối diện với cảm giác đau khổ vừa mới ngớt nhưng chưa bị quên mất, vẫn còn âm ỉ bên trong như sau: Tìm một không gian riêng không bị quấy rầy, nhắm mắt lại nhớ về những gì vừa xảy ra. Chủ động hít thở nhiều vào, nhờ hơi thở đưa tâm mình chạy về chỗ của khổ đau. Khi quay trở về chỗ khó chịu đó, sẽ có nhiều ý nghĩ nảy ra bảo mình làm cái này làm cái kia, cứ tập trung hít thở. Ý nghĩ tuôn ra càng nhiều thì mình càng hít thở nhiều đáp lại, nó sẽ theo luồng hơi thở mà "trôi qua", cảm giác khó chịu cũng theo đó mà "trôi qua". Bằng không thì ta sẽ bị dòng ý nghĩ đó cuốn đi khiến ta làm theo mệnh lệnh của nó, theo "chương trình" đã được lập sẵn trong nghiệp, theo thói quen tự đó giờ. Như cái ống nước đã mở toang hết van ra, dòng ý nghĩ, dòng cảm giác, cảm xúc cứ đến rồi đi xuyên qua thân-tâm mà mình vẫn không bị cuốn đi, nên gọi là "định". Hãy nhớ "định" là sự thông suốt bên trong, tức nhờ xả mà đứng yên, chứ không phải là gồng lại, nén lại để giữ cái dáng vẻ "kiên định" như nhiều người lầm tưởng.
  3. Khi đã khá quen với việc buông xả và có định lực tương đối thì ta đã có thể quan sát chính nỗi khổ của mình, để dần thấy ra gốc rễ sâu xa của nó. Hãy nhìn thẳng vào nó, ta sẽ thấy nó đã được tích tụ từ rất lâu rồi, giờ chỉ tuôn ra từ ngay trong thân tâm này thôi chứ chẳng phải do cái chướng duyên mình vừa gặp gây ra. Những chướng duyên, những người/việc bên ngoài chỉ như cái gai quẹt qua vết thương đã có sẵn trong mình để nhắc nhở mình về sự tồn tại của vết thương đó mà thôi. Quan sát kỹ hơn, ta sẽ thấy mình đã tập vô số cách đối phó nhằm quay mặt đi, chỉ để "không nhìn thấy" vết thương đó nữa mà thôi, nhưng cứ tưởng đó là "mình đã giải quyết xong". Tuy đã tới cấp 3, nhưng ta vẫn thường xuyên quay lại cấp 1 (bị cuốn trong đời, quên mất khổ), cấp 2 (thấy khổ, dừng lại, buông xả, củng cố định lực), và thỉnh thoảng mới ngoi lên cấp 3 này để quan sát và tìm hiểu về khổ. Nhưng những lần hiếm hoi đó bắt đầu cho ta trải nghiệm về "trí tuệ sáng suốt".
  4. Với trí tuệ sáng suốt, ta thấy rõ việc gì nên làm, việc gì không nên làm, nên ngày càng buông xả hơn, tăng trưởng định lực hơn, và trí tuệ mở ra sáng hơn, tạo nên vòng xoáy tích cực. Vòng xoáy tích cực này đưa ta tới những chứng nghiệm giải thoát, như cảm giác tự do không bị những điều tiêu cực kéo xuống lẫn những sự phấn khích cuốn đi, như sự thấu hiểu người/vật/việc, như sự hòa hợp với Vũ trụ, v.v. Nhưng đó cũng chỉ là vài lời quảng cáo mà thôi, bởi người đã trải qua thì khỏi phải nói, người chưa chứng nghiệm thì có nghe mô tả ngàn lời cũng chỉ có thể tưởng tượng mà thôi. Sự giải thoát không phải là "lên một cõi xa xôi" nào đó mà chính là nhập sâu vào từng khoảnh khắc hiện tại, từng việc đang làm, từng âm thanh, hình ảnh, cảm giác, cảm xúc, thái độ, v.v. Cái here-now đó nghe có vẻ gần như trước mắt mà có đi rồi mới biết nó xa tận chân mây. Nhờ nhập sâu vào here-now mà ta thấy được mọi thứ một cách chân thật hơn (như thị, as-is), không bị những lớp màn vô minh che phủ. Nên đó cũng được gọi là "tỉnh thức", từ tỉnh thức trong khi thức, đến tỉnh thức trong khi ngủ, và cuối cùng là tỉnh thức trong khi chết (mở mắt bên trong bước qua cửa tử).

Friday, August 27, 2021

Tại sao không gian (vật lý) có 3 chiều?

- Tại sao Vũ trụ bên ngoài (thế giới vật lý) chỉ có 3 chiều, trong khi vũ trụ bên trong (thế giới thông tin) không bị giới hạn số chiều?
- Vì 3 là số nhiều nhỏ nhứt! 🙂 Thượng Đế không muốn chúng ta buồn chán với số ít, nên đã chọn số nhiều để mọi thứ được trở nên hấp dẫn, thú vị, để muôn loài được thoải mái phát triển và sáng tạo. Nhưng để có một mặt đất vững chãi cho chúng ta đứng, một căn nhà gọn gàng cho chúng ta ở, Ngài đã đặt chúng ta vào thế giới của số nhiều nhỏ nhứt. 3 chiều là vừa đủ nhiều, còn nhiều hơn nữa thì quá phức tạp, quá hỗn loạn, lại làm cản trở sự phát triển ổn định của mọi vật và muôn loài.
- Hả? Chẳng phải 2 đã là nhiều rồi sao?!?
- À, 2 là "số nhiều bé", "số nhiều đơn giản" hay "số nhiều giả", 3 mới là "số nhiều lớn", "số nhiều phức tạp" hay "số nhiều thật". Người phương Tây mạnh về tư duy phân tích nên thấy "2 là nhiều" vì "2 là chia ra, chẻ ra, phân ra", và họ mổ xẻ, phân tích mọi thứ để tìm hiểu. Với kiến thức đó, họ đã tạo nên những cỗ máy thiệt mạnh mẽ từ thế kỷ 18 để vươn lên dẫn đầu thế giới trong 3 thế kỷ nay. Có lẽ vì thế mà chúng ta bị nhiễm quan niệm phương Tây (hiện đại) nên mới bảo "2 là nhiều", chứ thực ra trong văn hoá dân gian ta thì "3 mới là nhiều": "quá tam ba bận", "ba cái lẻ tẻ", v.v.
Không chỉ người Việt chúng ta mà nhiều dân tộc trên thế giới cũng (đã) coi "3 mới là nhiều" bằng cách phân biệt "số đôi" (dual) với "số nhiều" (plural): Hiện đại như trong các tiếng Ả Rập, các tiếng Đa Đảo (Polynesia, các đảo giữa Thái Bình Dương, gồm cả Hawaii); Cổ đại như trong tiếng Phạn (Sanskrit, ngôn ngữ cổ của Ấn Độ), tiếng Hy Lạp cổ đại, tiếng Slav (Đông Âu cổ), tiếng Đức cổ, v.v.
- À, vậy thì "3 là nhiều" là chuyện xưa rồi, bây giờ thì phải thống nhứt "2 là nhiều" đi chứ hả?!
- Lịch sử là vòng xoắn ốc mà, cũng sắp quay trở lại "3 mới là nhiều" rồi! 😃 Trong 3 thế kỷ vừa rồi, chúng ta cần phát triển nhanh, nên tạm hạ xuống "2 là nhiều" với tư duy phân tích để cho nó đơn giản, ổn định, dễ hiểu, dễ điều khiển, để tạo ra hằng loạt máy móc hỗ trợ cho sự phát triển của loài người. Nhưng phân tích ra xong thì phải tổng hợp vô lại, sang thế kỷ 21, chúng ta đã có quá nhiều máy móc để phân tích rồi, đã đến lúc chúng ta tổng hợp khối kiến thức khổng lồ đó rồi, và muốn tổng hợp thì phải nâng lên trở lại "3 là nhiều".
- Sao "tổng hợp" lại cần "3 là nhiều"?
- Vì "cái thứ 3" là cái để hoà hợp, dung hoà, để gom 2 cái đã được phân tích ra trước đó lại thành một thể thống nhất. Và với cái nhìn của đầu óc phân tích thì điều đó thiệt là phức tạp, khó hiểu, và thậm chí "không thể nắm bắt được", nên mới gọi chúng bằng các từ mang tính tiêu cực như "ngẫu nhiên" (random), "hỗn loạn" (chaos), "vướng víu" (entanglement), "bất định" (uncertainty), v.v. Dạo này, khi ngành Khoa học Phức (Complex Science) phát triển thì chúng ta mới có được một từ có vẻ tích cực hơn, đó là "emergence" (đột phát, đột khởi, đột sinh, đột hiện, hợp trội), vốn là một nguyên lý được biết đến từ thời cổ đại với phát biểu nổi tiếng của Aristotle rằng "Cái toàn thể không chỉ là một đống các cái bộ phận", tức là "cái toàn thể lớn hơn tổng các cái bộ phận".
- Vậy ngành Khoa học Phức nói gì về "3 là nhiều"?
- Trong cơ học phi tuyến tính, hệ 2 hành tinh thì quay quanh nhau theo quỹ đạo conic đơn giản, nhưng hệ 3 hành tinh thì có quỹ đạo hỗn loạn; con lắc đơn (với 2 đỉnh, một đỉnh cố định một đỉnh thả lỏng) thì dao động điều hoà, nhưng con lắc đôi (với 3 đỉnh, một đỉnh cố định, một đỉnh làm khớp nối, một đỉnh thả lỏng) thì dao động hỗn loạn. Trong lý thuyết Hỗn loạn (Chaos theory) thì có định lý Sharkovskii với phát biểu "chu kỳ 2 sinh nhị phân (bifurcation), chu kỳ 3 sinh hỗn loạn (chaos)", và định lý Poincaré–Bendixson với phát biểu "không gian (pha) 2 chiều có quỹ đạo tuần hoàn, 3 chiều có quỹ đạo hỗn loạn (với điểm hấp dẫn kỳ dị, strange attractor)".
- Nghe có vẻ thú vị đấy, nhưng cũng có vẻ phức tạp quá! 🙁 Nhưng thôi, định lý Poincaré–Bendixson cũng trả lời được câu hỏi ban đầu của mình rồi: không gian 3 chiều mới có quỹ đạo hỗn loạn.
- Hèm, bonus cho cái applet tương tác 3D để xem "đàn bướm bay trong cặp thiên hà" này (Lorenz attractor): http://www.malinc.se/m/Lorenz.php

Wednesday, August 18, 2021

Cười thế nào cho thực sự bổ dưỡng

Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ! 😉
Nhưng...
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cười người hôm trước hôm sau người cười
😃

Thuốc bổ mà uống nhiều quá thì trở nên thuốc độc. Vậy nên cười thế nào cho thực sự bổ dưỡng?! Theo mình, đó là *cười phá chấp*, cười vào chính những định kiến, quan niệm cứng nhắc, những sự bảo thủ, những cái cho rằng phải thế này mà không được thế kia... ở ngay trong chính mình! Đó là "đẳng cấp cười" cao nhứt!

Bản chất của cười là sự bất ngờ + phấn khích: Khi mình càng cho rằng nó sẽ thế này mà sự thật diễn ra nó lại thế kia thì toàn bộ năng lượng đã bị dồn nén trong những cái khuôn khổ "cho rằng" đó vị vỡ tung ra thành nụ cười. Năng lượng bị dồn nén, tắc nghẽn thì sinh ra đau bệnh, khi nó được giải toả, thông suốt thì mình trở nên khoẻ mạnh, có là cơ chế "bổ dưỡng" của nụ cười.

Nhưng vì không biết bản chất cơ chế đó nên đa số chúng ta chỉ uống thuốc bổ kiểu "mì ăn liền" bằng cách cười người khác, cái khác, vật khác mà thôi. Càng bị căng thẳng bởi những khuôn khổ trong tâm mình như "phải đẹp", "phải tốt", "phải mạnh mẽ", "phải nhân hậu", "phải thành công", v.v. thì người ta càng tìm những đối tượng bên ngoài để cười cho cái sự "đẹp giả tạo", "đạo đức giả", "thùng rỗng kêu to", "yếu mà bày đặt ra gió", "ngu mà tỏ ra nguy hiểm", v.v. Nhưng cười người ta thì chỉ làm mình bớt căng thẳng được lúc đó, dư âm cùng lắm là vài ngày, chứ những khuôn khổ gông cùm kia vẫn còn nguyên trong tâm mình, và đến khi gặp điều trái tai gai mắt mình vẫn bị đau khổ như thường. Chỉ khi nhận ra mình trong đó, nhận ra chính mình đang loay hoay chật vật một cách ngờ nghệch ngô nghê ngớ ngẩn với cả mớ những khuôn khổ hình thức y hệt như cái đứa, cái con, cái vật đang "tấu hài", đang "làm trò lố" trước mặt mình đó, thì mình mới thực sự được vui vẻ mạnh khoẻ suốt đời.

Xin share một clip hài hết sức ý nghĩa: Một bài học cơ bản như "Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao", ý nghĩa tuyệt vời đến gần như là chân lý tuyệt đối... Vậy mà... chỉ cần ta cố chấp, bắt nó phải tuyệt đối như vậy thì... ta chỉ đang làm trò hề mà thôi.
(Các bạn xem và tự cảm nhận nhé!)

Còn ai chưa tự tìm được ý nghĩa thâm sâu cho mình thì thử xem vài phân tích sau nhé:

  1. Con hiểu cha hơn cha!
    - Cha chẳng còn sống được bao lâu nữa!
    - Cha! Không có chuyện đó đâu! -- Trong bản dịch ghi là "Cha còn khoẻ mạnh lắm mà!" <-- Đây là cái khuôn khổ "phải luôn động viên, nói lời tích cực", nhưng nó ẩn giấu đằng sau đó là sự sợ đối diện với sự thật phải mất người thân.
    - Cơ thể Ta thì TA là người hiểu rõ nhứt mà! <-- Có vẻ như chân lý đấy... nhưng hãy xem tiếp sẽ rõ... (ở phần số 3)
  2. Ví dụ xuyên thời gian
    - Ví dụ, for example... -- Trong bản dịch ghi là "(Nói cái gì nghe được chết liền)" <-- Ở thời Chiến Quốc ngày xưa mà ông cụ nói cả tiếng Anh cơ đấy! Hơn nữa, cụm tiếng Anh "for example" thì ai biết tiếng Nhật cũng dễ dàng nghe ra, vậy mà cái thằng dịch nó lại dốt quá chẳng nghe ra! <-- À, không phải đâu, dòm mặt mấy đứa con ông tướng kìa. Thằng dịch nó không dốt đâu, mà nó đang ghi ra suy nghĩ của mấy đứa con đó 😉 Thâm sâu hơn một bậc nhé!
  3. Bài học bất hủ
    - Ba anh em hợp lực lại thì sẽ ra sao?...
    "Tạch"
    Ái da!
    Cũng gãy mất tiêu...
    Đôi khi cũng có chuyện đó!
    <-- Ông tướng đúng là thâm sâu, không chỉ giảng về việc đoàn kết mà còn cho thấy đừng ỷ lại vào bộ ba của tụi bay nhé, đôi khi cũng bị gãy đó! 😛
    - Những trường hợp này thì phải nhờ anh em họ hàng tới giúp một chút nhé
    Năm đứa nhé!
    Năm đứa mà đồng tâm hiệp lực thì tuyệt đối...
    "Tạch"
    Vẫn gãy mẹ nó luôn...
    <-- Cứ hễ đụng tới chữ "tuyệt đối" là tuyệt đối tạch nhé! Ông tướng dạy ko những bằng lý thuyết suông mà bằng thực hành hết sức sinh động. 😆
    - Nhưng mà... nhưng mà còn bà con cô bác nữa mà. Lần này hãy gom hết thảy họ hàng lại <-- Hết sức ý nghĩa nhé, muốn thành công thì phải tập trung toàn bộ lực lượng nhé!
    - Có tới tận mười người rồi thì không lẽ nào... chuyện đó (có thể xảy ra)...
    "TẠCH!"
    <-- Ông tướng còn khoẻ quá, mười cây tên vẫn bẻ phát gãy luôn!
    - Ta chết rồi thì tụi con cứ sống tự do, thích làm gì thì làm! <-- Rốt cuộc, ông tướng dạy bài học cuối cùng không phải bằng lý thuyết nữa mà bằng chính thực hành buông xả mọi cố chấp: chấp nhận mình còn khoẻ lắm (tức lúc đầu nói mình biết mình sắp chết là sai), chấp nhận mình không thể bắt mọi thứ theo ý mình được mà chỉ có thể làm hết sức, làm gương tốt nhất mà thôi.

Monday, August 02, 2021

Reinvent the wheel - Artificial neural network

Yesterday, after 10 years diving down the ocean of #Uniinfo and just some months swimming up, I ended up with a model of my #autonoton almost the same as the very hot “artificial neuron” in the current “deep learning” trend. So what I’ve called “#uninet” seems to be just the good old “artificial neural network” (ANN), and those 10 years of mines turn out to be just a waste?!!!

That moment, I just smiled hearing all of the critical comments against my work echoing back:

  • - “You stupid! All those great things have been invented by great men and already taken a lot of hard time and effort. So why don’t you just apply them, but always rework from the beginning?!” -- My daddy usually scold me.
  • - “Don’t reinvent the wheel!” -- My friends usually warn me.
  • - ...[after a long discussion about Uniinfo]... “So, what’s your original (new) point? What’s the difference between yours and the laws stated by philosophers long time ago?!” -- Even my closest friend (in the field) sometimes asked me like this, and I just answered: “... uhm... maybe no diff! Actually Uniinfo is just my way to re-understand the Universe, which of course has been understood by millions from the ancient time.
  • - [...]

I just smiled and said in my mind “I know! I know what I’m doing.” I was so pleased and thankful that I’d seen, on the way swimming up (from abstract to concrete), how the whole Universe (via Uniinfo as a philosophy) manifests itself in its building block, the Quantum (a physics-theoric model in #UniThread theory), and then how neurons, the building blocks of our brain, as well as autonota, the building blocks of the upcoming “wise computer” (notor), emerge resembling the Quantum. That’s why we can understand the Universe using our neurons.

Then I looked back at the state of the art of ANN, to see what people have known about its mechanism... Almost nothing, but “it works!” What’s the semantics of ANN? Almost nothing, but a crude model of the biological neurons!

Even as a model of neurons in our brains, ANN is so crude with the following man-made artifacts which are different from both biological neurons and autonota:

  1. “Bias” instead of wave: In real life, neurons communicate with each other using a train of firings, just like fireflies, oscillating between accumulating signal (called “action potential”) and firing signal. That’s similar to the “signal waves” of autonota in uninet, where the wave’s frequency (rate of firing) and wave synchronization determines how they communicate. However, the communication between artificial neurons in ANN is very different with just on pass of signal passing from one layer to the next layer where all “neurons” in a layer fire at once, no pulse rate, no frequency. There, the signal firing is determined by a fixed number called “bias” which simulates the threshold of accumulated action potential before firing.
    => Instead of learning the reality using “superposition of waves” like in Fourier series, ANN approximates functions using piecewise functions like in splines.
    => That’s the reason why the predicted results of ANN is usually biased and overfitted.
  2. Full/fixed connection with “weights” instead of live connection forming/pruning: In real life, new connections between neurons are continuously formed and old ones are pruned based on the communication between them. It’s called neural plasticity. But in ANN, the “neurons” are fully connected between layers (in traditional ANN) or have some fixed topology in newer ANNs like CNN. There, the neural plasticity is mimicked merely by modifying the “weights” of connections.
    => That’s “the curse of dimensionality” which costs ANN training a lot of computing power.
  3. Feed-forward (unidirectional) communication instead of communication in circles (with feedback, bidirectional): In real life, there are various neural circuits where the neurons connect with each other in circles. But due to the fear of uncontrollability, most of the researches on ANN only deal with feed-forward signaling, no loop, no feedback! In our brain, only the neurons whose job is specialized in perception, i.e. recognizing features in the input signal, are connected in feed-forward structure. Actually there’s a class of ANN called “recurrent neural networks” (RNN), where the connections can form loops, but they are very hardly researched.
    => That’s why current ANN is good at pattern recognition, but still very far from “general intelligence”, AKA. “strong AI”.

* Source: fb note in Feb 2020: https://www.facebook.com/notes/2720975368144941/

Additional contents:

  • Drawing by Fourier series (an excellent art 😉 by 3Blue1Brown):
    with his beautiful explanation about the math behind: But what is a Fourier series? From heat flow to drawing with circles
  • Versus drawing by splines (to see animation 😉, skip the first minute):
  • Fourier Blackhole, my Processing sketch shows that the "winding machine" of the Fourier transform relates to phase-space shift/rotation in Special Relativity & in the game "Pendulum Wave" 🙂: https://www.openprocessing.org/sketch/849752
  • Actually more than Fourier series, the interunion operation used in autonoton is much more compact and more natural. Fourier series is to interunion as radix system is to continued fraction, eg: e = 2.718281828459045... = [2;1,2,1,1,4,1,1,6,1,1,8,...].

Saturday, July 24, 2021

Chết không phải là hết (Hồi ký giải thoát)

Từ nhỏ mình đã nhiều lần muốn tự tử, nhưng khi chạm đến thân thể này thì mình nhận ra là chỉ cái đầu này (thần kinh trung ương) là muốn chết thôi chứ cơ thể nó chưa muốn chết. Vậy thì làm sao mình có thể giết hại một sanh mạng lớn như vầy được trong khi những sanh mạng bé nhỏ ngoài kia mình còn không muốn làm tổn hại?!

Nhưng nếu đau khổ quá thì sao đây? Hồi nhỏ mình với mẹ có thích quan điểm trợ tử để "được chết nhẹ nhàng nhờ trợ giúp y khoa" (assisted dying). Đến khi mẹ bệnh nặng, phải nằm một chỗ, mình đã hỏi lại mẹ về quan điểm đó, mẹ im lặng! Hai năm sau, đến khi thấy mẹ đã giải thoát khi bước qua bên kia cửa tử rồi quay trở lại nhẹ nhàng như không, mình mới hiểu rằng lúc mẹ nằm một chỗ đó mẹ đã thấy được nhiều thứ mà mình còn chưa thấy... những thứ ở sâu thẳm bên trong.

Lúc đó mẹ đã tự do, muốn đi là đi muốn ở là ở, nhưng mẹ vẫn còn ở lại tới một năm rưỡi nữa. Trong buổi tâm sự không lời giữa 2 mẹ con đó, mình chỉ biết đại khái là "mẹ còn việc phải làm" thôi chứ cũng chẳng rõ là việc gì. Đến ngày cuối mẹ ra đi thì mình mới biết đó là vì trong nhà mình còn người còn quá chấp vào hình tướng bên ngoài. Nếu chỉ có 2 mẹ con thì chắc mẹ đã ra đi bất kỳ lúc nào thuận tiện rồi, nhưng khi còn người chấp vào hình thức thì mẹ phải chọn đúng ngày đẹp để ra đi, nhằm để phá chấp cho người ta rằng "Tui nằm bất động đây mà biết hết, yêu thương hết thảy chứ chẳng phải là không còn biết gì nữa như ông nghĩ đâu!"

Một năm rưỡi đó mẹ đã dạy mình rằng "không cần phải nói con à, mình cứ giải thoát, nhẹ nhàng đi rồi người bên cạnh sẽ cảm nhận được con à!" Mẹ đã phá một cái chấp lớn trong mình rằng "mẹ già quá rồi, như cây khô cứng rồi, khó tự giải thoát được rồi, con phải tu tập để hỗ trợ mẹ thôi!" Mẹ cho mình thấy "chưa bao giờ là quá muộn", rằng mấy năm nằm một chỗ đó mẹ đã đi xa hơn mình rất nhiều.

Một khi đã gần gũi với người giải thoát, cảm nhận được không khí giải thoát rồi thì mình tự thấy là không còn con đường nào khác. Cả 2 vợ chồng mình được một cú hích tinh thần để quyết tâm vững bước trên con đường giải thoát. Vợ thì bảo "bây giờ em đã tìm được người để tôn thờ rồi!" Mình thì đi hơn một năm sau cũng qua được "bên kia", thấy quả thực nó không như những gì mình tưởng tượng.

Bên kia cửa tử không phải là một thế giới ảo tưởng như truyền thuyết dân gian kể về "thiên đàng" hay "địa ngục", mặc dù nó có hết thảy những chi tiết của những truyền thuyết đó theo một nghĩa thực hơn nhiều. Những cái sướng của "thiên đàng" và những cái khổ của "địa ngục" chẳng qua chỉ là sự dồn lại của những cái sướng/khổ trong cả đời sống qua mà mình không để ý tới thôi (VD, làm người khác khổ mà mình không biết). Khi sống trong đời, chúng ta bị cái thân này giới hạn lại chỉ cho mình thấy biết một tí xíu trong cái Tôi hạn hẹp nhỏ bé đó thôi, ngay cả những nỗi khổ sâu trong chính mình mình còn không biết tới huống gì là nỗi khổ của người khác.

Cái chết thiệt là vi diệu! Nó không phải là sự chấm dứt, theo kiểu "chết là hết", mà chỉ đơn giản là sự xoá bỏ cái hàng rào ngăn cách bên trong với bên ngoài, phá đi bức tường cái Tôi mà thôi. Khi không còn bị ngăn cách, ta thấy rõ khi nỗi khổ khởi lên thì chỉ là có một nỗi khổ đang tồn tại chứ không có "tôi khổ hay anh khổ", khi có một tình thương khởi lên thì chỉ là có một tình thương đang tồn tại chứ không có "tôi thương anh hay anh thương tôi", v.v. Ta thấy mình là một với hết thảy những gì mình thương nhứt và ghét nhứt, là một với cả những thứ mình không hề để ý tới như đất cát, rác rưởi, côn trùng, v.v. Ta thấy mình không còn bị giới hạn trong cái không gian thân thể nhỏ bé này hay trong mấy chục năm ngắn ngủi của đời người. Tuy là một nhưng mọi thứ đều khác nhau, cũng như hôm nay khác với hôm qua, như tay trái khác với tay phải vậy. Khi bức tường cái Tôi được hạ xuống, tuy hình thức là sự "mất đi", là "chết", nhưng nội dung chẳng có gì mất đi cả, chỉ là trả mọi thứ trong cái Tôi này, trong cái thân-tâm này về với Vũ trụ mà thôi.

Monday, June 21, 2021

Con đường Giải thoát dành cho ai?

"Anh gặp người ta đừng có nói chuyện giải thoát, họ chẳng biết giải thoát là gì đâu!"

Lâu lâu mình lại nhớ tới lời nhắc nhở này của em gái. Giải thoát hẳn không phải là con đường dành cho mọi người.

  1. Người không biết khổ thì không có gì để giải thoát, vì họ như "chuột sa hũ nếp", họ buộc phải ăn hết mớ "gạo nếp" dẻo thơm kia cái đã.
  2. Người biết khổ là có duyên với giải thoát, nhưng nếu chưa biết tại sao mình khổ thì còn rất khó chấp nhận con đường giải thoát. Với họ, con đường họ đã chọn là luôn đúng, là chắc chắn sẽ dẫn tới sung sướng, hạnh phúc, còn những điều khổ sở kia đều do người ta mang tới, hay cùng lắm (nếu không đổ lỗi được cho ai) thì do "ông Trời" đày đoạ họ. Và nếu thấy khổ quá, họ thường nghĩ "chết là giải thoát".
  3. Người biết khổ và biết nguyên nhân của khổ rồi (thường chỉ mới biết 1 phần đau khổ và những nguyên nhân nông cạn thôi) thì đã muốn bước trên con đường giải thoát, nhưng nếu chưa được nếm mùi giải thoát thì họ vẫn loay hoay trong tối tăm mà chẳng biết "đường nào mới là giải thoát đây".
  4. Chỉ có người đã thấy khổ, biết nguyên nhân của khổ, và đã được nếm mùi thoát khổ thì mới có thể bắt đầu bước đi trên con đường giải thoát... còn rất chi là dài...

Cái số 0 "không biết khổ" thực ra luôn đeo bám chúng ta, dù đã trải nghiệm tới số 3. Đó là vì 1) bản năng tự vệ của mình là luôn tránh né nỗi đau, nên mình rất khó nhận ra chân tướng của khổ đau, hay có thấy cũng khó chấp nhận được; và 2) những phước báo, những vốn liếng của mình thường che mắt mình khiến cho tâm mình chỉ hướng tới những cái "hay", cái "đẹp", cái "sướng" mà không thấy rõ những điều tiêu cực như đau khổ, xấu ác, dở tệ trong chính mình. Đó là lý do khiến cho ta chỉ khi "tới chân tường", khi "hết vốn", khi "không còn gì để mất" thì mới thực sự bước đi trên con đường giải thoát, hướng tới tự do chân thật.

TB. 4 giai đoạn trên là mình rút ra qua quá trình quan sát bản thân cùng những người thân xung quanh. Nhưng không ngờ là khi ghi xuống và xem lại thì thấy nó có gì đó giống với 4 chân lý vi diệu của đạo Phật (Tứ Diệu Đế): Khổ đế, Tập khổ đế, Diệt khổ đế, Đạo đế. Hơn nữa, mình cũng đã viết một bài hướng dẫn về cách đi trên con đường giải thoát này.

Friday, June 11, 2021

Vòng xoắn ôc Nói - Không nói

  1. Không nói vì không biết gì để nói;
  2. Nói vì mới biết chút đỉnh, vì thấy nó hay, tục gọi là "thùng rỗng kêu to";
  3. Không nói vì thấy cái biết của mình còn chưa tới đâu, cần quay vô tìm hiểu cho biết đầy đủ hơn;
  4. Nói vì thấy mình đã biết đầy đủ;
  5. Không nói vì nói ra người ta chẳng hiểu (mới biết đủ về mình mà chưa biết đủ về người khác);
  6. Nói vì đã biết đủ về mình lẫn về người, nói đúng cái người ta cần nghe và đúng những điều người ta có thể hiểu được;
  7. Không nói mà người vẫn hiểu, đạo gọi là "dĩ tâm truyền tâm".
Trong đó, 4 bậc đầu được gọi là hiệu ứng Dunning-Kruger.

Tuesday, June 08, 2021

Cho = Nhận

Nếu làm việc giúp người mà được tự nhiên như nước chảy từ trên cao xuống thấp, như hơi nước bốc từ dưới thấp lên cao, như biển nổi sóng khi gặp gió, như nước sôi lên khi gặp lửa, thì chẳng còn ai là người (nhận) được giúp và cũng chẳng có ai là người (cho) giúp đỡ cả. Bởi biển nổi sóng khi gặp gió là gió giúp biển làm sóng hay biển giúp gió giải toả những dồn nén bên trong?! Ngay trong lúc ta cho ra cái này thì đã nhận lại cái khác rồi, nhưng thường ta chỉ thấy có một chiều!

Bố thí mà không có người bố thí cũng không có người được bố thí, ấy mới thực sự là bố thí. Bằng không thì chúng ta đang cho vay nặng lãi chứ chẳng phải bố thí. Bởi cho đi 1 đồng, làm giúp 1 công mà cả đời cứ mỗi lần khó chịu, mỗi lần gặp khó khăn thì tâm mình nó lại nhảy ra "đòi nợ": "Mình đã giúp người này thế này, sao ko thấy họ tốt hơn nhỉ?", "Mình đã cho người ta nhiều thứ, sao lúc này không ai giúp đỡ mình nhỉ?" Rốt cuộc thì cho ra 1 lần mà đòi nợ cả một đời, nên cứ trôi lăn trong vòng xoay vay-trả.

Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng,..., khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm!
-- Matthew 6:1-18

Monday, May 31, 2021

Thinking styles: Visual vs Abstract vs Verbal vs Logic vs Connective vs Kinesthetic etc.

I’ve been surprised so much watching a clip about “aphantasia” saying “your mind is blind” just because a picture does not pop up in your mind when you think of something. I’ve always considered myself a "visual thinker", though! Most of my thoughts are in “visual” form, or at least non-verbal form. I can imagine any shape, 2D, 3D, even 4D, not only in static but usually in dynamic state, let them move, transform, etc. But as I close my eyes, I see nothing but a black screen! It’s much harder for me to imagine things eyes closed than when eyes open. If I try a lot (when eyes close)… I can imagine some simple things but very flickering. So with eyes closed, I’m near “aphantasic”, and with eyes open, I’m “hypophantasic”, while I spend all of my life thinking with visualization instead of saying internal monologues.

Where’s the root of that “contradiction”?

It lies in the abstractness of my "mental image" and the “low resolution” of my mental screen. It’s a trade off for my multi-dimentional & connectional visualization. With such a low resolution, I can only visualize limited amount of details at one time, but I can traverse the vast “network of connections” from the overall shape to any specific detail.

1. Visual (Pictorial) vs Abstract

When eyes open, I usually “see” the imagined things as “transparent” shapes overlaying on the scene in front of my eyes. Actually those stuffs have various abstraction levels in various dimensions. At the most abstract level, an imagined stuff doesn’t have any shape, just an abstract idea with all of its complexity and connections with others as well as with its properties, connections with its other representations in other abstraction levels, etc. Following those connections, I can refine it to details, shapes, behaviors, colors, textures, etc. That process of visualize things from abstract to concrete representations is very much like how a car is designed and rendered on computer. But much more than the 2D flat screen of the computer, my internal “screen” is multi-dimensional, not in geometric sense (3D- 4D), but in informational sense. Only if I have to “project” all of them onto a 2D screen in front of my eyes, I'll see the imagined shapes overlaying on the actual scene outside like in augmented reality.

In contrast, my wife, a hyperphantasic, feels much easier to visualize things with eyes closed than with eyes open. When eyes open, she’s distracted with the external scene. But when eyes close, she can concentrate and see vividly the internal scene with full details… with no abstract! She’s very difficult to understand abstract concepts, so when explaining things, I usually have to use concrete examples.

2. Abstract vs Verbal

Many ones may think that without pictures popping up in mind, you must think in words (internal monologue). But that’s not my case. From a child I was in a low end of autism spectrum, thus had difficulty expressing in words what I think, just because I didn’t think in words. Growing up, I’d tried hard to learn using language to express my ideas, then ended up running many monologues inside my head just like "normal" people. But that verbal expression is just for my communication and theory forming (I’m a theorist scientist). Whenever thinking deeply about new things, I first visualize them, manipulate them, do experiment with them to observe the result etc. Only after I “see” them clearly inside, can I find words to describe them, or sometime I must “coin” my new terms to express what I’ve seen inside. So, even I do use a lot of verbal tools to capture the rich abstraction & complexity of the internal world, like in this article, I don’t think in words at first hand.

3. Verbal vs Logic vs Connective vs Kinesthetic

After learning both natural languages and formal languages (maths, logics, programming languages, ...), I’ve used language as a tool to express my ideas and logics. But not only the ideas, the logics also does not come from language.  For example, I think of a formula like “If P then Q” like “If you hit me then I’ll be angry” not as a sentence, nor as a diagram “P → Q”, but as a bundle of connections from P to Q with all of its complexity. Thus I usually don’t say “I think” but say “I see” the logics. Only when I need to write/draw it down, I use verbal language and graphical language (diagram).

Moreover, my mental images are basically dynamic, thus they are constructed, transformed, and manipulated by my “mental hands”. That kind of thinking is very much kinesthetic, and it’s related to my strength in sport and dancing. With that kinesthetic thinking, I'm much better than my wife and many other (hyper)phantasic friends in spatial cognition skills. I've observed that while (hyper)phantasics see pitures & the concretes, hypo/a-phatasics see space & the abstracts, and they're all trade offs.

4. Abstraction & spirituality (hypnosis, meditation, ...)

The contrast between me and my wife reflects clearly on the suggestibility in hypnosis: while she’s very easy to be hypnotized, I’m good at hypnotizing and very difficult to be hypnotized. When eyes closed, she can immerse into the internal scene just like in real life, while I almost see nothing. However I’m good at meditation. My meditative state is nothing similar to the real life. In that state, I can chose to enter the emptiness or chose to observe the internal working of our minds (my mind as well as the minds of others around). Although that meditative state is usually easier to be reached with eyes closed in a quiet environment, but that’s just to reduce distraction. In everyday life, I usually enter meditative state on site to observe various things around and my mental working inside.

The only time I can actually see things like in real life with eyes closed is when I dream. As a part of meditation, I usually observe my dreams and they are various, too. From the flashing scenes to continuous scenes, from abstract objects to concrete objects, my dreams are so various. In a dream, I passed by a tree crown but didn’t see it clearly, then I decided to do an experiment: I got back and stared at the tree, the abstract shape of the crown refined itself into individual leaves; looking more at the leaves, they became colorful. So there’s also a process of abstract to concrete refinement (rendering) in my dreams, just like in my awake thoughts, but much faster and automatic. Actually, in the real life, everything I see also generates images in that abstract to concrete way, but it’s so fast and automatic that I can only recognize that process when observing them in meditative state.

In contrast, the (hyper)phantasics, like my wife, only see the end result of the "rendering process" which are photographic/pictorial images, no matter in dreams, in closed eye visualization, or when eyes open. Therefore, they are easier to see "paranormal" phenomina, like "ghost", strange things, strange phenomina, etc. Diving deep into the mental world, I see those stranges are just the manifestation of the abstract things, unseen by them but projected onto their 2D screen. I see this world is a giant stage and this life is a giant play or dream or film on that stage. Most of us only see the 2D images of that film without seeing the process rendering those images. That's why the spiritual world are so mystical.

+ A little bit about the terms:

Although my wife is clearly hyperphantasic, my case is no way clear between “phantasic”, "hypophantasic" and “aphantasic”. I think there would be much more than just a linear scale from “hyperphantasia” to “aphantasia”. Here are some suggestions:

Thursday, May 27, 2021

Đa nhân cách & Tự kỷ

Mình viết bài này kỷ niệm sự kiện phiên toà của Jeni Haynes ở Úc thành công, phiên toà đầu tiên trên thế giới chấp nhận lời khai của các nhân cách khác nhau của cùng một người. 33 nhân cách trong hơn 2500 nhân cách của Jeni Haynes đã đưa người đã ngược đãi, lạm dụng và hãm hiếp cô suốt tuổi thơ ra công lý. Ở đây, mình xin chia sẻ về hai "chứng bệnh" hay bị hiểu lầm là "đa nhân cách" (phần 1) và "tự kỷ" (phần 2) cùng với những khả năng siêu việt tiềm ẩn của họ (phần 3).

Tranh sơn acrylic “Multiple Personalities” của Oghale Thomas Agboge

1. Đa nhân cách và phổ phân ly

Khác với những ấn tượng xấu do phim ảnh tạo nên về "đa nhân cách" như "bạo lực" hay "nguy hiểm cho xã hội", ngược lại chính những người "đa nhân cách" mới là nạn nhân của bạo lực từ nhỏ và lớn lên họ dễ gặp nguy hiểm khi chuyển đổi giữa các nhân cách khác nhau. Thời trẻ thơ, tâm hồn con người rất mỏng manh, khi bị chấn thương tâm lý (do bạo lực, lạm dụng, hay áp lực), cách duy nhứt để tự vệ là "trốn tránh". Nhưng còn nhỏ thì biết chạy trốn đi đâu được, nên chỗ duy nhứt để trốn là chính trong tâm hồn mình (vô thức, cõi tưởng). Bằng trí tưởng tượng vô biên và khả năng học hỏi (một cách bản năng) nhạy bén của trẻ em, để thay thế "người đã trốn", đầu óc sẽ dựng nên một "nhân vật" khác để đối phó với nghịch cảnh, thường dựa trên một hình tượng hay khái niệm nào gần đó. Như một bé gái yếu đuối có thể dựng nên một bạn trai mạnh mẽ để bảo vệ, còn một bé trai có thể nhập vai vào một con sư tử, hay thậm chí nhập vào "hồn của đá" để trở nên "unbreakable" (không thể phá vỡ). Áp lực càng lớn, sự tổn thương càng nặng, ở lứa tuổi càng nhỏ, thì sự phân ly nhân cách càng mạnh.

Những nhân cách đã trốn thì thường không lớn nữa, nên nhìn vào tuổi của các nhân cách bên trong sẽ biết được thời điểm sự cố đã xảy ra. Mỗi nhân cách thường chỉ chiếm quyền điều khiển trong một hoàn cảnh nhứt định đặc trưng cho nhân cách đó, nên bản thân các nhân cách đó thường không tự biết đến nhau mà thường tự cho rằng "mình là tất cả". Như một nhân cách yêu thương thì chỉ xuất hiện trong môi trường yêu thương nên thường không biết đến sự hận thù, luôn thấy rằng "thế giới này luôn đẹp đẽ!" Thực ra thì mỗi khi có bất hoà hay đau khổ thì nhân cách yêu thương đó đã "trốn mất" và đổ dồn hết cho nhân cách thù hận, nên đối với nhân cách thù hận thì "thế giới này luôn khốn nạn!" Còn trong những lúc bình thường thì nhân cách bình thường điều khiển (tay, chân, miệng), nhưng 2 nhân cách kia vẫn thường dòm ra và cùng nghe cùng biết các sự kiện như nhân cách bình thường biết (chỉ không thèm điều khiển thôi). Đó là lý do mà trước khi có một người đáng tin cậy chỉ ra các nhân cách khác nhau thì người đó thường không tự nhận ra được.

Thế nên người ngoài thường thấy người đa nhân cách là mâu thuẫn, khó hiểu, thay đổi kỳ lạ, và hay "nói dối". Nhưng với chính người đó thì các nhân cách tự thấy mình rất bình thường, chẳng mâu thuẫn gì cả, chẳng qua là "bọn nó không hiểu mình thôi", và "bọn nó mới là kẻ bịa đặt, chứ mình có nói như vậy bao giờ mà bảo mình nói dối?!" (vì nhân cách khác nói). Trước khi các nhân cách biết đến nhau thì sự chuyển đổi nhân cách hoàn toàn lệ thuộc vào các kích thích bên ngoài (external trigger), tức theo hoàn cảnh, chứ hoàn toàn không có chuyện "tự dưng thay đổi" như trong phim ảnh hay diễn. Nghĩa là "không có lửa sao có khói?!" Nên với người ngoài bình thường thì cũng chỉ thấy rằng người đa nhân cách đang phản ứng lại một cách thái quá mà thôi (chứ không biết đó có thể là một nhân cách hoàn toàn khác).

Vậy cái gì là đặc trưng để xác định "đa nhân cách"??

Theo phim ảnh thì giọng nói khác, chữ viết khác, nhưng có ai trên đời này có thể nói lời yêu thương và nói lời căm thù bằng cùng một giọng không, và ai có thể viết cùng một nét chữ cả khi mình bình tĩnh lẫn lúc mình bấn loạn không? Những thể hiện khác biệt đó thường không thể dùng để phân biệt nhân cách được, vì nó hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh (các nhân cách được sinh ra là từ hoàn cảnh mà). Những đặc trưng khác nhau đó chỉ có tác dụng phân biệt nhân cách qua thôi miên, tức trong cùng một hoàn cảnh, nhà thôi miên "gọi hồn" các nhân cách khác nhau lên và họ thể hiện ra các dạng khác nhau. Tuy nhiên, "nhập vai" là một đặc trưng cơ bản của thôi miên, và bất kỳ một người bình thường nào cũng có khả năng "nhập vai thần kỳ" theo gợi ý (suggestion) của nhà thôi miên một khi đã rơi vào trạng thái thôi miên. Vậy nên các thể hiện khác nhau chỉ mang tính chất tham khảo, và có những tính cách chỉ khác nhau về suy nghĩ và định danh (id, tức "tôi là là ai") mà thôi.

Có một đặc trưng chính xác hơn để xác định, đó là sự phân ly trí nhớ, VD: lúc bình thường thì không nhớ những gì xảy ra lúc tức giận, nhưng tức giận lên thì nhớ hết những lần tức giận trước. Điều này, với những người ngoài không thân thì thường bị coi là "giả bộ quên" hay "nói dối". Thực ra mọi người đều có "kí ức khác nhau" trong những môi trường khác nhau: Chúng ta thường cho rằng chúng ta nhớ hết tất cả nhưng không phải vậy; khi đang yêu thương thì chúng ta rất khó nhớ những sự tức giận, nhứt là những chi tiết, nhưng đến khi tức giận lên thì một chi tiết nhỏ của lần trước mình cũng không quên. Thế nên thực ra "đa nhân cách" không phải là một "bịnh" mà chỉ là mức độ phân ly mạnh nhất trong phổ/dải phân ly trong mỗi chúng ta mà thôi.

*** Phổ phân ly (Spectrum of Dissociation)

Để sống trong xã hội, mỗi người chúng ta phải phân ly tính cách ra để "nhập vai" vào nhiều vai trò khác nhau trong nhiều hoàn cảnh xã hội khác nhau. Ra đường có làm ăn cướp nhưng về nhà vẫn phải làm cha yêu con; lên bục giảng làm cô giáo nhưng xuống bếp thì vẫn phải làm vợ hiền. Cả tính cách lẫn trí nhớ chúng ta đều phải phân ly ít nhiều, nhưng thường là vẫn giữ được một nhân cách và định danh ("tôi là ai") thống nhất. Khi sự phân ly trở nên mạnh hơn, chúng ta đi qua một dải từ những phản ứng "bốc đồng", những thể hiện "rối loạn lưỡng cực" (bipolar disorder), rồi "giải thể nhân cách" (depersonalization) và "rối loạn quên" (amnestic disorder), đến "rối loạn quên phân ly" (dissociative amnesia), "rối loạn bỏ nhà ra đi phân ly" (dissociative fugue), rồi "rối loạn nhân cách tâm trạng bất ổn" (emotionally unstable personality disorder), và cuối cùng là "rối loạn định danh phân ly" (dissociative identity disorder), hay tên cũ thường dùng là "rối loạn đa nhân cách" (multiple personality disorder).

*** Tái hoà hợp (reunion)

Dù là những bốc đồng nhỏ, hay những trạng thái tâm lý tách biệt do tâm trạng bất ổn, cho đến những nhân cách khác nhau, thì đó cũng là hệ quả của việc chúng ta đè nén và/hoặc chèn ép nỗi đau (suppression/repression trong các cơ chế "tránh né nỗi đau"). Khi ở trong môi trường gây đau khổ (thuở nhỏ) thì những cơ chế tự vệ đó đã giúp bảo vệ chúng ta. Nhưng khi lớn lên, thoát ra khỏi môi trường đau khổ / áp lực đó rồi, thì chúng ta nên biết đối diện với nó, chấp nhận những phần khác nhau trong chính mình để kết nối chúng lại với nhau, "nói chuyện với nhau", "bắt tay nhau" để cùng nhau đối diện với nỗi đau vẫn còn bị giấu sâu bên trong, từ đó dần hoá giải nỗi đau đó. Chỉ khi nỗi đau bị giấu kín bên trong được soi sáng và hoá giải thì chúng ta mới có thể hoà lại thành một thể thống nhất được.

Có những người lớn bị stress vì áp lực (mới đây chứ không phải từ thuở nhỏ), mình chỉ hỏi chuyện để bày hết các phần mâu thuẫn trong đầu ra trước mắt, rồi gợi ý "như một người mẹ hiền thương con, mình phải biết chấp nhận sự tồn tại của những phần mâu thuẫn đó, rồi nói chuyện với chúng để chúng hiểu biết nhau hơn". Thế là không lâu sau những người ấy đã tự bình phục.

2. Tự kỷ và phổ hướng nội

Cũng như những "giới tính thứ ba" từng bị coi là "bệnh", việc gán nhãn "bệnh" cho những người trong phổ tự kỷ (từ nhẹ đến nặng) là việc làm "hết sức sai lầm" đối với những người mắc hội chứng này. Sai lầm vì tự kỷ nói riêng và hướng nội nói chung là sự khác biệt chứ không phải là "bệnh cần phải chữa". Vì con người nói chung là động vật xã hội nên đa số chúng ta có tính cách hướng ngoại, có nhu cầu giao tiếp cao, nên thường mặc định "đó là khoẻ, ngược lại là bệnh". Nhưng dưới con mắt của những người tự kỷ thì hoàn toàn ngược lại: chính những người "bình thường" mới là "ngu ngốc, chẳng biết gì", bởi họ chỉ biết "phe (đa số) của họ" mà chẳng hiểu gì về phía mình (phe tự kỷ) còn mình thì hiểu cả hai, chỉ là không giải thích được cho họ hiểu mà thôi (thường họ không chịu hiểu).

Những người "bình thường" có thể giao tiếp rất giỏi nhưng họ không biết rằng đó chỉ là bản năng. Họ nắm bắt và bắt chước các chuẩn mực chung của xã hội, các biểu hiện trong giao tiếp một cách bản năng, do họ có cùng cấu tạo hệ thần kinh với đa số người, nên thường chẳng (cần) biết chúng diễn ra như thế nào. Ngược lại, những người trong phổ tự kỷ lại có cấu tạo hệ thần kinh khác nhiều so với số đông nên, như những kẻ "từ trên trời rơi xuống", họ phải nỗ lực học hỏi rất nhiều trong từng giao tiếp nhỏ. Đa phần những thể hiện "bệnh hoạn" của họ là do họ chưa ý thức được (đủ) về sự khác biệt của mình, dẫn đến những hành động theo bản năng cho rằng "người khác cũng như mình và hiểu được mình" trong khi thực tế là ngược lại, nên bị phản tác dụng. Còn những người tự kỷ đã ý thức đủ về sự khác biệt của mình thì ngược lại không những có thể bắt chước những người "bình thường" mà còn hiểu rõ cơ chế bên trong của những hoạt động giao tiếp đó nữa. Và đó là số ít những người "tự kỷ hướng ngoại". Họ làm được những điều đó nhờ khả năng tập trung phi thường và sự học hỏi không ngừng nghỉ của họ.

Tuy nhiên, thường thì đa số người trong phổ tự kỷ và hướng nội sử dụng khả năng tập trung và học hỏi phi thường của mình để làm những "việc riêng trong thế giới riêng" của họ (vì nó thoải mái hơn, hiệu quả hơn). Họ có thể tỏ ra vô dụng, đần độn đối với mọi người nhưng chỉ khi (một số ít trong số) họ có cơ hội thể hiện ra thì mọi người mới biết họ chính là những thiên tài (thiên tài tự kỷ, autistic savants): từ Einstein, Mozart, Beethoven, cho tới Newton.

*** Phổ hướng nội & tự kỷ (Spectrum of Introversion & Autism [Grimes])

Thuật ngữ "hướng nội" (introvert) dễ gây hiểu lầm là "người muốn hướng vào trong và không muốn hướng ra ngoài". Đây cũng chính là hiểu lầm của đa số người, rằng người hướng nội / tự kỷ là những kẻ "không muốn giao tiếp, không có cảm xúc", v.v. Thực ra "hướng nội" chỉ là một thể hiện bắt buộc khi bị quá mệt mỏi với bên ngoài. Có thể do quá khác biệt (như não tự kỷ) hoặc do gặp những mâu thuẫn quá sâu sắc nào đó với bên ngoài mà người ta buộc phải quay vào bên trong. Tuy nhiên, "hướng nội" chỉ là thể hiện đối với đa số người "hướng ngoại" mà thôi, chứ hầu hết những người hướng nội và cả tự kỷ đều rất "hướng ngoại" với những người thân và thấu hiểu họ. Trong cộng động nhỏ đó, họ có thể nói rất nhiều, rất thích đi chơi, tiệc tùng, v.v. Tuy nhiên, dù trong cộng đồng nào thì họ vẫn thích chất lượng hơn số lượng, họ thường thấy những cuộc vui chơi, tán dóc là vô nghĩa, vô vị và lãng phí. Đối với họ, đa số người trên thế giới này đều chỉ "nói cho đã miệng chứ chẳng hề biết lắng nghe". Còn ngược lại, vì họ lắng nghe và suy ngẫm quá nhiều nên thường làm người khác nhàm chán.

Nếu "hướng ngoại" là hướng năng lượng ra bên ngoài và nhận năng lượng từ bên ngoài thì "hướng nội" đơn giản là chiều ngược lại với những ưu điểm như hiểu rõ bản thân, khả năng tập trung cao, tiềm năng sáng tạo cao, v.v. Nhưng khi nghiên cứu bộ trắc nghiệm tính cách "Big Five", mình đã không ngờ là quan điểm phương Tây lại cho rằng "hướng nội là tiêu cực, là một dạng khiếm khuyết". Về mặt này thì quả là phương Đông có nhiều "đất sống" hơn cho những người "hướng nội", với các triết lý và tôn giáo đề cao sự hướng về bên trong nội tâm. Dạo này, phương Tây cũng dần có cái nhìn tích cực hơn về "hướng nội". Và Grimes gần đây đã đề ra lý thuyết về một phổ liên tục từ hướng nội năng động, hướng nội thụ động, đến tự kỷ năng động (hội chứng Asperger), và cuối cùng là tự kỷ.

*** Tái hoà nhập

Dù là nạn nhân của nhiều sự kỳ thị và hiểu lầm của xã hội, dù việc "sống trong thế giới của riêng mình" luôn dễ dàng hơn đối với những người trong phổ hướng nội - tự kỷ, nhưng sau khi phát triển về bên trong nhiều rồi, những người hướng nội - tự kỷ nên quay về hoà nhập với bên ngoài, dùng chính những khả năng tập trung cao và quan sát sắc bén của mình để học lại "những điều cơ bản trong giao tiếp". Ngược lại, những người "hướng ngoại", sau khi đã phát triển nhiều về bên ngoài, cũng nên quay lại bên trong, để hiểu rõ bản thân mình hơn, cũng như hiểu và thông cảm hơn cho những người "lập dị" kia.

3. Đa nhân cách, tự kỷ, và "siêu năng lực"

Khi rút vào bên trong, những người tự kỷ và những "nhân cách trốn bên trong" có cơ hội tuyệt vời để "lên núi luyện công". Nó nổi tiếng tới độ có riêng một thuật ngữ cho nó gọi là "hội chứng savant", mà trong tiểu thuyết hay gọi là "bác học điên". Thử xem qua vài thiên tài tự kỷ trong thời hiện đại nhé:

  • Temple Grandin (1947) là một phó giáo sư ở ĐH Bang Colorado với khả năng thấu hiểu động vật. Nhờ khả năng "hiểu tiếng động vật" và khả năng quan sát tuyệt vời của mình, bà đã thiết kế ra nhiều mẫu chuồng trại và trang thiết bị mang tính nhân đạo cho các vật nuôi.
  • Stephen Wiltshire (1974) là một nghệ sỹ kiến trúc da đen sinh ra ở London. Anh có khả năng nhìn một lần rồi nhớ và vẽ lại cả một mảng phố (góc rộng panorama) chính xác tới từng chi tiết.
  • Daniel Tammet (1979) là một nhà diễn thuyết, tiểu thuyết gia người Anh với khả năng nhớ số và làm toán siêu việt. Anh thường "thấy và cảm nhận" các con số chứ không đơn thuần là "nhớ" như chúng ta. Anh còn có khả năng học ngoại ngữ siêu tốc... bằng trí nhớ hình ảnh (chứ không phải bằng trí nhớ âm thanh như người thường). Và anh còn tự chế ra ngôn ngữ riêng tên “Mänti” với khoảng 1 ngàn từ.
  • Aleksander Vinter (1986) là một nhạc sỹ Na-uy với nghệ danh Savant. Anh đã sáng tác hằng vạn bài nhạc điện tử.

Còn những người đa nhân cách thì sao? Để đối phó với những nỗi đau khủng khiếp, hẳn họ phải tự "luyện võ công" cho mình rồi: Người lớn (bên ngoài) bị mắt kém, thậm chí mù mà nhân cách con nít (bên trong) thì mắt vẫn sáng bình thường; nhân cách này bị dị ứng, bị mắc bệnh, còn nhân cách kia thì không; những nhân cách con nít vẫn nhớ như in những chuyện từ thuở nhỏ; khả năng học ngoại ngữ, viết chữ ngược, vẽ tranh, v.v. Tuy nhiên, khác với những thiên tài tự kỷ, hầu hết những khả năng kỳ lạ này đều được giấu kín vì chủ nhân của nó là những người bị tổn thương nặng, và chỉ được thuật lại một cách vô danh qua các tài liệu tâm lý học. Những người thân của mình trong phổ phân ly cũng có những nhân cách phát triển khả năng đặc biệt, nhưng có liên quan nhiều đến tâm linh nên mình cũng không tiện kể ra đây. Trên mạng, mình tìm ra được 2 trường hợp có tên tuổi:

  • Kim Noble (1961) là một hoạ sỹ người Anh với nhiều phong cách vẽ khác nhau. Trong 20 nhân cách của cô, 14 nhân cách có tài hội hoạ, và mỗi nhân cách có một phong cách khác nhau: có trườu tượng, có tâm linh, có con nít, có hiện thực,..., và có một nhân cách chuyên vẽ lại sự thực trần trụi của những ký ức bị lạm dụng tình dục thuở nhỏ của Kim.
  • B.T. (1972) là một phụ nữ với 10 nhân cách. Chị đã bị mù sau một tai nạn ở tuổi 20, nhưng không phải tất cả các nhân cách đều mù. Có một số nhân cách vẫn "thấy ánh sáng chớp tắt". Sau 4 năm kết nối các nhân cách lại với nhau, chị đã cải thiện rõ tình trạng thị giác, thấy nhiều hơn và có nhiều nhân cách đã thấy trở lại.

Với kinh nghiệm thiền và thôi miên, mình thấy các "siêu năng lực" của những người tự kỷ rất giống với năng lực của thiền định, và các biến đổi sinh lý "như phép lạ" của người đa nhân cách hoàn toàn không có gì lạ so với kinh nghiệm thôi miên. Chỉ có điều là qua đó, chúng ta có thể thấy khả năng kỳ diệu của tâm thức mà thôi. Vì sức mạnh ám thị (gợi ý, suggestion) của thôi miên quá mạnh, mà các liệu pháp hoà hợp “đa nhân cách” lại không thể tránh khỏi kỹ thuật thôi miên, nên hiện tượng “đa nhân cách” vẫn còn gây nhiều tranh cãi chưa được thống nhất trong tâm lý học hiện đại. Còn ở VN ta nói riêng và các nước Á Đông nói chung thì “đa nhân cách” thường được dân gian gán cho những cái mác siêu hình như “ma nhập”, “vong nhập”, khiến cho các “liệu pháp” mê tín diễn ra tràn lan (nổi cộm gần đây như hiện tượng Chùa Ba Vàng). Mình hay ví cách gọi “vong nhập” giống như nói “con gà con nhập vô quả trứng” vậy. Vì những nhân cách đó vốn đang hình thành ngầm bên trong, chỉ đợi đúng duyên (hoàn cảnh) thì nó mới xuất hiện, mà dân gian lại gọi là “nhập vào”. Cũng như sức mạnh ám thị của thôi miên, những liệu pháp “trục vong” có tác dụng tức thời, nhưng về lâu dài thì nó lại phản tác dụng. Vì đáng lẽ phải chấp nhận thực tế (các nhân cách / tâm hồn / linh hồn bên trong đó) để hoà hợp chúng lại, theo đúng như chánh pháp của nhà Phật, thì các liệu pháp “trục vong” lại bắt nó phải “xuất ra”. Nhưng nó vốn từ bên trong phát triển ra thì làm sao mà “xuất ra” được, chỉ có cách là bị đè nén, chôn vùi xuống mà thôi. Càng chôn vùi vào bóng tối, những nhân cách đó càng tách biệt, lập dị (quậy phá) và càng khó có cơ hội hoà nhập.

Các cơ chế "tránh né nỗi đau"

Thành thật với nỗi đau của mình, đó chính là thứ làm cho tôi bất khả chiến bại.
-- Nayyirah Waheed
Cái "đầu óc lươn lẹo" này có nhiều cách "tự gạt mình" để tránh né nỗi đau của chính mình, nhưng cả thảy đều để lại hậu quả xấu lâu dài: 
  • Chối bỏ nỗi đau (denial): Việc cho rằng "tôi không đau", hay "tôi không có vấn đề" giống như tự bịt mắt mình lại khi thấy mình đang lao xuống vực sâu vậy. Đây là cơ chế tự vệ thông dụng nhất, mà cũng vô dụng nhất, vì mọi ảnh hưởng xấu của nỗi đau không những không mất đi mà còn bị làm cho tệ hại hơn vì sự "không thấy đường đi" của mình.
  • Tìm sự thay thế (replacement): Cũng thông dụng không kém, đó là tìm những thứ vui thú, dục lạc, đam mê khác để hòng lấp đi nỗi đau và cái "lỗ hổng" ở trong lòng mình. Nhưng tránh vỏ dưa đạp vỏ dừa, hậu quả của việc mình bị cuốn, bị nghiện vào những thứ thay thế đó còn làm cả đời mình lụn bại.
  • Đè nén nỗi đau (suppression): Người mạnh mẽ hơn một tí thì nén nó vào bên trong, nuốt nước mắt ngược vào trong, tìm mọi cách để "quên nó đi", nhưng thực ra là chỉ đẩy nó vào sâu bên trong bóng tối vô thức mà thôi. Thế là như quả bong bóng, càng nén vào trong thì sau này nó nổ ra càng khủng khiếp.
  • Chèn ép nỗi đau (repression): Không nén hẳn vào trong không cho nó thoát ra, cũng chẳng "chối bỏ" hẳn, cơ chế tự vệ này đẩy nỗi đau sang 1 bên, sang một phần khác của tâm hồn để phần bên này được hết đau. Rốt cuộc là hình thành những "con người" (nhân cách) khác nhau trong chính mình mà chúng lại chẳng thèm nhìn mặt nhau, quay lưng với nhau. Rốt cuộc con người mình luôn tự mâu thuẫn mà không biết.
  • Chuyển nỗi đau qua người khác (displacement): Bằng sự tức giận, thù oán người khác, đổ lỗi cho người khác, mình làm người khác đau để được cảm giác "hả dạ", để không phải "đau một mình"... Nhưng vô tình mình lại khiến cho cả thế giới xung quanh trở thành thù địch, tự mình thấy "ai cũng khốn nạn" và khiến ai cũng thấy mình là một kẻ khốn nạn.
*** Chỉ có bình tĩnh sáng suốt đối diện với nỗi đau để thấy rõ nó một cách tường tận thì mới có thể hóa giải được tận gốc rễ của nó, và qua đó mình mới mạnh mẽ lên được. 
Cái mạnh mẽ này khác với cái mạnh mẽ của sự đè nén hay những phản ứng bạo lực (trong displacement) ở chỗ đây là sự mạnh mẽ từ bên trong. Tại sao từ bên trong? Bởi vì mình đã tiêu hóa được nỗi đau, giống như mình đã được "tiêm vắc-xin" bằng nỗi đau đó vậy, nên từng tế bào, từng giọt máu của mình đã được "miễn dịch" với nỗi đau đó vậy.

Monday, May 17, 2021

Căn bản, gốc rễ, cội nguồn

Muốn xây nhà vững chãi, ta phải có nền móng chắc chắn, muốn học giỏi, ta phải nắm được kiến thức căn bản, muốn giải quyết triệt để, ta phải tìm được gốc rễ của vấn đề, muốn phát triển bền vững, ta phải biết rõ cội nguồn của mình.

Chúng ta thường hình dung cái căn bản, cái nguồn ngốc đó như một điểm mà từ đó chia ra thành cành, nhánh lớn, nhánh nhỏ, và cuối cùng tới lá là những thứ cụ thể mà ta trực tiếp thấy, gặp, tiếp xúc trong đời. Nhưng thực ra cái điểm chung đó chỉ mới là "gốc" chứ chưa phải là "rễ", mới là "nền" mà chưa tới "móng". Vì bộ rễ bị ẩn dưới đất nên ta thường chẳng thấy nó cụ thể ra sao và chỉ gọi chung "gốc rễ" như một cụm.

Thực ra, cũng như cành nhánh ở trên được tẻ ra từ gốc, bộ rễ cũng có nhiều nhánh tẻ ra từ gốc cây ngầm bên dưới mặt đất. Cành nhánh trên tán lá vươn ra tới đâu thì những nhánh rễ dưới đất cũng phải vươn ra đới đó và còn xa hơn nữa, nếu không thì cả khối cây cao lớn đó chẳng thể nào đứng vững được trên một cái gốc đơn lẻ. Sự rẽ nhánh ngược lại đó còn rõ ràng hơn nữa khi ta nhìn về nguồn gốc hay cội nguồn của mình: Ai sinh ra cũng là hậu duệ của cả cha lẫn mẹ, dòng sông nào cũng bắt nguồn từ vô số con suối nhỏ. Trong thực tiễn, chỉ vì lý do tiện lợi (dễ nhớ, dễ ghi chép, dễ lưu truyền qua nhiều thế hệ) mà người ta thường chọn ra một đại diện trong số nhiều nhánh rẽ đó để gọi là "tổ tiên" là "cội nguồn", như chọn dòng "nội" và bỏ qua dòng "ngoại".

Trong triết học và khoa học cũng vậy, người ta cố công tìm một hoặc một vài cái "gốc", cái "nguyên" (nguyên tố, nguyên lý) mà từ đó sinh ra mọi thứ. Nhưng kỳ thực ở chỗ tận cùng "đầu tiên" đó làm gì có gì cụ thể để có thể nói ra được nên mới gọi nó là "Không", là "Vô vi". Hay nói cách khác thì đó là "vô nguyên", tức "không có cái khởi đầu cụ thể nào". Còn nói cho dễ hiểu nữa thì mọi cái "cội", cái "nguyên" được coi là "khởi đầu" đó, bản thân nó lại được bắt nguồn từ mọi thứ khác: Thời thế tạo anh hùng để anh hùng chuyển xoay thời thế; Mọi thứ sanh Ba để Ba sanh ra mọi thứ, .v.v.

Cả thảy sự nhìn nhận thiên lệch đó đều do cái Tôi cả. Cái Tôi hay "bản ngã" là "căn nhà" hay "cái vỏ ốc" giữ cho tâm hồn yếu đuối này được nguyên vẹn, thống nhứt, được liền một khối. Nhưng nó cũng ngăn cản không cho ta thấy bản chất sâu xa của mình và của vạn vật. Để giữ cảm giác "được nguyên vẹn", cái Tôi không cho phép chúng ta nhìn "xuyên xuống đất" để thấy rằng mỗi cá nhân này là một "mớ hỗn độn" của bao nhiêu linh hồn, quan niệm, định kiến, cùng với bao nhiêu cây trái, xác động vật trộn lại với nhau. Nếu để ý, chúng ta có thể thấy phần nào cha mẹ của mình ở trong mình, nhưng cái Tôi tuyệt đối không cho phép chúng ta thấy những kẻ, những thứ chúng ta ghét lại có ngay ở trong bản thân mình.

Cái Tôi tuyệt đối không cho chúng ta thấy mình có nhiều quá khứ khác nhau và chỉ cho phép chúng ta rẽ nhánh vào tương lai thông qua các lựa chọn (một quá khứ - nhiều tương lai). Nó ăn sâu vào tâm trí chúng ta tới nỗi dù Vật lý Lượng tử đã phải đối diện với tính bất cục bộ (non-locality, một "hạt" có mặt ở khắp mọi nơi trong không gian cũng như tương tác xuyên thời gian), nhưng đa số người vẫn thích giải thích hiện tượng đó bằng diễn giải "đa thế giới": mỗi "lựa chọn" sẽ tạo ra một "thế giới song song"! Không chỉ ở cõi trần, cái Tôi còn in vào cõi tâm linh những khái niệm "cá nhân độc lập" như những vị thần/chúa ở ngoài Thế giới đang điều khiển Thế giới, hay khái niệm về những linh hồn cứ chạy dài từ "kiếp" này sang "kiếp" khác một cách tuyến tính (không rẽ nhánh).

Nhìn xuyên qua bức tường cái Tôi, ta sẽ thấy một bức tranh toàn cảnh về "cây không-thời gian": Mỗi cá thể (người, vật, "hạt") ở hiện tại (tại đây bây giờ) là kết quả của sự "thêu dệt", "nhào trộn" từ nhiều thứ ở khắp nơi trong không gian xuyên suốt qua thời gian quá khứ, để tiếp tục trong tương lai, cá thể này quay trở lại "bung ra", "phát triển" ra khắp nơi trong không gian thông qua ảnh hưởng của mình. Theo cái nhìn của mỗi cá thể thì từ quá khứ đến hiện tại là chiều "hội tụ", như cả bộ rễ hội tụ về gốc, như muôn dòng suối nhỏ hội tụ về sông cái; còn từ hiện tại tới tương lai là chiều "phân tán", như từ gốc chia ra cành nhánh, như dòng sông đổ ra biển cả qua nhiều cửa sông vậy. Hay trong thuyết Tương đối thì có khái niệm nón ánh sáng cũng tương tự như vậy. Qua đó, ta thấy mình chẳng phải "từ trên trời rơi xuống" mà hoàn toàn được sinh ra từ ngay chính thế giới này, và khi chết đi cũng chẳng "đi đâu mất" mà chỉ là trở về với thế giới bao la để tiếp tục một vòng đời mới mà thôi. Khi hội đủ nhân-duyên, mọi thứ trong Thế giới họp lại thành một hình hài, ta được sanh ra; suốt quãng đời, ta liên tục vừa nhận vào (hội tụ) vừa cho ra (phân tán); đến "hết hạn" thì các nhân-duyên đó tan rã ra để trả về cho Thế giới chuẩn bị cho những sự hội tụ khác. (Xem thêm về nhân-duyên-nghiệp-quả.) "Tan rã là để tái hiện", vòng lặp đó được thể hiện sinh động qua hình xuyến xoắn (spirorus) bên dưới.

Bonus:

  • WWW: Bộ rễ cây tỏa ra không chỉ để giúp cây đứng vững và hút được nhiều nước, chất dinh dưỡng, mà nó còn liên kết với cả mạng lưới vi nấm chằng chịt dưới đất để liên lạc, trao đổi chất, chăm sóc cây con, chăm sóc cây già bệnh, .v.v. Mạng lưới đó được gọi là "Wood Wide Web" (như "World Wide Web" của con người hiện đại).
  • Từ ngữ Hán-Nôm: "Căn bản" là một từ Hán-Việt gồm "căn"[根] = "rễ" và "bản"[本] = "gốc", nên vốn nó cũng có nghĩa là "gốc rễ" hay "cội rễ", nhưng đã được chuyển sang nghĩa trừu tượng hơn. Còn "vốn" trong "vốn có" thì là một chữ Nôm nhưng cùng gốc với chữ Hán "bổn"/"bản"[本], nên "tiền vốn" = "tiền gốc", "mắng vốn" = "mắng phụ huynh của nó". Chữ "vốn"[本] đó lại có tự hình là chữ "mộc"[木](cây) được gạch ngang ngay dưới gốc cây để đánh dấu. Tới lượt mình, chữ "mộc"[木] lại có tự hình cổ là cả 2 phần trên dưới đối xứng: phân nhánh cành lá & phân nhánh bộ rễ ().
  • Tiếng Anh: Nếu trong tiếng Việt có phân biệt rõ giữa "gốc", "rễ" và "thân" thì trong tiếng Anh lại hầu như chẳng có danh từ riêng cho cái "gốc". Về nghĩa "gốc rễ" nói chung thì họ dùng từ "root" (rễ) hay "origin" (nguồn gốc), mà chúng ta đều dịch ra là "gốc": "root cause" = "nguyên nhân gốc", "root directory" = "thư mục gốc", "axis origin" = "gốc tọa độ". Còn trong sinh học thì có các từ liên quan đến "gốc" như "stock" = "thân chính, thân gốc", "stump" = "gốc còn lại sau khi cây bị chặt", "bole" = "thân cây dưới tán (trước khi phân nhánh)", "trunk" = "thân cây", "stem" ="cuống" ("stem cell" = "tế bào gốc"). Tham khảo thêm các bộ phận của cây:

Thursday, April 15, 2021

"Chấp" & "Thương"

- Trời ơi, tức quá! Nó đã chơi ăn gian mà còn cười mình nữa kìa!
- Ừ, tánh nó vậy mà, chơi bất chấp luôn mà! Mình chấp nó làm chi cho mệt?!
- Nhưng mình bị thua oan ức thì làm sao chịu được?!
- Chấp nhận đi là được hết hà! Cứ coi như mình chấp nó lần này đi!
- Hả? Chấp nó hả? Vậy là coi như mình "ngon" hơn nó hen!
- Ờ... thực ra cũng chẳng phải ai hơn ai cả, chỉ là tự mình thương lấy mình thôi.
- Ồ, hay thiệt hen! Mình bị nó chơi gác thì mình tức, "tức" tức là "bị thương" trong lòng, rồi mình tự "thương mình" thì cái vết thương đó được hóa giải. 😃
- Đúng rồi, đơn giản vậy thôi, chẳng cần phải "phá chấp" chi cao siêu hết. Chỉ cần chuyển hết mọi cái "chấp" thành ra "chấp... nhận" là được. 😉
- A ha, chấp nhận được là tình thương!
Chấp [執] (giản thể: 执)
  1. Từ nghĩa gốc chữ Hán là "nắm giữ lấy", như "cố chấp"[固執] (giữ chặt ý kiến, quan điểm), "tranh chấp"[爭執] (vừa giữ phần mình vừa tranh phần người), "chấp nhứt"[執一] (giữ lấy một ý duy nhứt), "ngã chấp"[我執] (giữ chặt cái Tôi, cái "bản ngã" của mình), "phá chấp"[破執] (phá bỏ sự bám giữ), v.v.
  2. Người Việt ta đã sáng tạo ra một từ Hán thuần Nôm "chấp nhận"[執認], dù được cấu tạo bởi 2 chữ Hán nhưng chỉ được sử dụng trong tiếng Việt. Trong tiếng TQ, Nhật Bản, "chấp nhận" được dịch ra thành "tiếp thụ"[接受] (tiếp thu) và "thừa nhận"[承認].
  3. Từ đó, ta có chữ Nôm "chấp" với nghĩa "chấp nhận thách thức dù mình bị thiệt", như "chấp mày đi trước 3 nước luôn!" Nghĩa chữ "chấp" này nhiều khi được dùng đồng thời nhưng đối lập với nghĩa gốc "bám giữ lấy" bên trên, như "tao biết mày ăn gian nhưng tao không thèm chấp, chấp mày luôn đó!" Hay như trong Thiên Nam ngữ lục có câu:
    Gươm hay thao lược cơ quyền
    Bội trăm Bạch Khởi, chấp nghìn Tôn Ngô!
    [𡗄咍韜畧机權
    倍𤾓白起 执𠦳孫吳]
  4. Ngoài ra, người Việt còn dùng từ "bất chấp"[不執] với nghĩa rất Nôm "không kể tới, không đếm xỉa tới", có sắc thái khác xa nghĩa gốc Hán "không bám chấp". Trong tiếng TQ, "bất chấp" được dịch ra thành "bất cố"[不顧]
Thương [傷] (giản thể: 伤)(dị thể: 慯)
  1. Từ nghĩa gốc chữ Hán là "đau", như "thương tích"[傷迹] (dấu vết bị đau), "thương vong"[傷亡] (đau chết), "tổn thương"[損傷] (đau mất), "sát thương"[殺傷] (giết và làm đau), "trọng thương"[重傷] (đau nặng), "thương cảm"[傷感] (cảm xúc, cảm thấy đau xót trong lòng), v.v.
  2. Người Việt ta đã dùng chữ "thương" với nghĩa Nôm "thương yêu", có lẽ xuất phát từ "thương cảm" (cảm thấy đau xót trong lòng), và có thể dùng chữ 慯 để phân biệt với chữ 傷 bên trên. Nghĩa này nhiều khi trái ngược với nghĩa gốc trong tiếng Hán: "thương người như thể thương thân" không có nghĩa là "làm tổn thương người ta và thân thể mình" như từ Hán "thương thân"[傷身]; hay "thương hại" không có nghĩa là "làm đau và tổn hại người khác" như từ Hán "thương hại"[傷害]. Và 2 nghĩa có vẻ đối lập này nhiều khi được dùng trong cùng một từ, như "nhà thương" vừa là "nơi chứa người bị thương" vừa là "ngôi nhà của tình yêu thương".
    Bầu ơi thương lấy bí cùng!
    Dẫu rằng khác giống, nhưng chung một giàn.
    [匏喂慯𥙩𦷬供
    唒𠺘恪𥠭 仍終𠬠蕳]

Monday, April 05, 2021

Tùy duyên, thuận tự nhiên, đối diện và chấp nhận

Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên:
Đói ăn, khát uống, mệt ngủ yên!
Ngọc sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm:
Ðối cảnh không (động) tâm, chớ hỏi Thiền!
-- Trần Nhân Tông

"Tùy duyên" được lấy thí dụ đơn giản như "đói ăn, khát uống, mệt ngủ yên", nên cũng có cách nói khác là "thuận tự nhiên". Nghe có vẻ đơn giản, nhưng khi chúng ta sống quá nhanh, làm việc như cái máy thì chúng ta không còn khả năng nhận ra những cái "duyên" hay cái "tự nhiên" đó nữa. Khi bị lập trình trong đầu rằng "phải làm cái này, phải không được làm cái kia", chúng ta say mê làm việc quên ăn quên ngủ, không thấy đói không thấy mệt, nên cứ tưởng mình là "siêu nhân". Đến khi ăn thì dù bụng đã no nhưng miệng vẫn thèm nên lại ăn tiếp, ăn hại cái thân; đến khi ngủ thì nằm xuống mà tâm chẳng dừng nên ngủ chẳng yên; hay khi mệt quá phải nằm vật xuống thì chẳng còn muốn dậy nữa.

Ở đời, chúng ta thường cứ nhảy qua nhảy lại giữa 2 thái cực đó: Làm cho cố để hòng "cuối tuần", "cuối đời" mình được hưởng thụ; đến lúc hưởng thụ thì lại chẳng thể nào thỏa mãn được. Đó là vì trong lúc cố làm thì mình đã vô tình kéo dãn cái "bụng", cái "lòng tham" ra mà không biết. Vì không biết nên cứ tưởng là tại cái bên ngoài còn thiếu nên cứ quay lại cày thêm nữa; cày thêm được 1 chén gạo thì cái bụng đã dãn ra thêm 2 chén... nên "được voi đòi tiên", rồi thắc mắc tại sao "lòng tham không đáy", rồi bất mãn, đau khổ đủ điều. Cứ thế mà vòng xoáy thiếu, khổ, tham, lao đầu tìm kiếm, càng thiếu, càng tham, càng khổ, càng lao đầu tìm kiếm,... nó trói buộc chúng ta từ đời này sang đời khác, từ người này sang người khác trong khắp cả thế gian này.

Hiện tượng "dãn bụng" này không lạ gì đối với những người quan sát bên trong thân-tâm mình, và cũng đã được nghiên cứu, chứng minh rõ ràng bởi ngành thần kinh học hiện đại qua những đường truyền dopamine. Nhưng thay vì dùng kiến thức đó để giảm ham muốn thì thế giới hiện đại đang tận dụng tối đa cơ chế đó để "kích dục", "kích cầu", thông qua hằng loạt hệ thống từ chính trị, kinh tế, tới các triết lý kinh doanh, và các công nghệ phục vụ chủ nghĩa tiêu thụ. Đơn cử như ngành công nghệ thực phẩm, họ nghiên cứu đến tận răng, từ hình dáng, hương vị, đến cả âm thanh khi nhai miếng bánh để đảm bảo "ăn là ghiền!" Xã hội hiện đại đã quá thành công trong việc lập trình những cỗ máy tiêu thụ không ngừng, quá thành công trong việc tạo ra sự thiếu thốn không ngừng trong thân-tâm mỗi người. Xét về phương diện xã hội thì cảm giác thiếu thốn của mỗi người đó là cần thiết vì nó chính là động lực để mỗi cá nhân phải "cày" cho XH. Nhưng khi nó bị kích lên quá mức thì giờ đây XH chúng ta đã và đang phải gánh chịu nhiều hệ lụy tiêu cực từ nó, thể hiện rõ qua các cuộc khủng hoảng (khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng môi trường, khủng hoảng nhân đạo, khủng hoảng y tế).

Vậy làm sao để có được hạnh phúc, đầy đủ thực sự? Nó nằm ở đẳng thức:

Muốn = Được

Hết thảy nỗi khổ ở đời như phải xa người mình thương, phải gần kẻ mình ghét, phải mất cái mình yêu thích, phải bị đau bệnh, không có được cái/người mình muốn, v.v. tựu trung lại cũng chỉ là do cái thực tế mình "được" không như cái mình "muốn". Cái "Muốn" đó, theo nghĩa rộng, bao gồm hết thảy những quan niệm, định kiến, niềm tin, kiến thức, tham vọng, bản tánh,... cho tới cả bản năng sinh tồn, và thuộc về phạm trù cái Tôi (bản ngã). Còn cái "Được" đó, theo nghĩa rộng, bao gồm hết thảy những điều kiện bên ngoài, môi trường, hoàn cảnh, quan hệ XH, vật chất, cho đến những cảm giác, cảm xúc mình nhận được qua thân-tâm này (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Tuy cái Tôi thường che mờ tâm trí khiến ta nghĩ rằng những cái "Muốn" là của riêng mình, được tạo ra theo ý chí tự do của mình, là bất khả xâm phạm, là bất di bất dịch, nhưng như phân tích ở trên, thực ra mọi thứ trên thân-tâm mình đều là kết quả của sự tích lũy liên tục từ môi trường xã hội & tự nhiên qua nhiều năm tháng trong đời này cũng như nhiều đời trước. Nói cách khác, cái "Muốn" bên trong và cái "Được" đến từ bên ngoài không phải hoàn toàn độc lập với nhau, cũng không phải hoàn toàn lệ thuộc nhau (như "Muốn → Được"), mà chúng bị ràng buộc chằng chịt bởi mạng lưới Nhân-Duyên-Nghiệp-Quả. Trong đó, cái "Muốn" thuộc về khu rừng rậm "Nghiệp" và cái "Được" thuộc về trời đất bao của "Duyên".

Bị ràng buộc chằng chịt như vậy thì giữ cân bằng "Muốn = Được" như thế nào? Như hình dưới, đại khái có 3 xu hướng. Chú thích: ký hiệu "M" = "Mine" = "Mình" đại diện cho những gì thuộc về thân-tâm mình (sanh ra cái "Muốn"), và "W" = "World" = "thế gioWí" đại diện cho cả thế giới bên ngoài (sanh ra cái "đWợc").

  1. Giữ cái "Muốn", tìm cái "Được": Do cái Tôi che mờ tâm trí (như nói trên) nên chúng ta thường giữ cái "Muốn" như thể "bất khả xâm phạm", rồi chạy đi tìm cái "Được" cho thỏa mãn cái "Muốn" đó. Đa số người đều tìm được thứ thỏa mãn cái Muốn của mình ngay trước mắt, chỉ có điều là sự thỏa mãn đó bền vững tới đâu thôi. Đi theo hướng này, người càng "may mắn" được thỏa mãn nhiều và thỏa mãn dài lâu thì cái Tôi càng tăng cao, trở nên càng cố chấp, độc đoán, duy ý chí,... đến khi gặp thực tế trái ý thì tức giận, sân hận, càng dễ sụp đổ, dẫn đến làm khổ mình và khổ hết thảy người (thân) xung quanh.
  2. "Tùy duyên cực đoan", bỏ cái "Muốn": Đa số chúng ta khi nghe tới 2 chữ "tùy duyên" thì nghĩ theo hướng này! Có người thì bỏ hết quy tắc luật lệ, đụng đâu làm đó, tiện gì làm nấy, trở nên "tùy tiện"; có người thì bất chấp lương tâm, mặc kệ mọi cảm xúc tự nhiên của mình, trở nên "đơ", vô cảm. Nhưng cũng như hướng "tìm cái Được" bên trên, việc "giả vờ" gạt bỏ cái Muốn của bản thân này chẳng thể vững bền. Sự "lừa dối bản thân" đó vô tình tạo nên sự tách biệt trong tâm thức, đẩy những ham muốn vốn tự nhiên vô tội kia vào bóng tối của Vô thức. Trong Vô thức, những ham muốn đó không những không chết đi mà còn hấp thụ năng lượng của bóng tối để trở thành những "con ma", đến khi đủ mạnh thì quay trở ra để chiếm lấy thân-tâm mình mà làm "việc ma quỷ". Đó là lý do có nhiều người rất tích cực tu luyện mà rốt cuộc lại bị "tẩu hỏa nhập ma", lạc vào "ma đạo".
  3. Đối diện & chấp nhận cả cái "Muốn" lẫn cái "Được": Muốn giữ cân bằng bền vững, chỉ có cách là dừng lại, bình tĩnh, nhìn thẳng vào cả cái Muốn bên trong lẫn cái Được đang đến từ bên ngoài, đối diện với cả hai, chấp nhận sự chênh lệch, để hòa hợp chúng lại ra được điểm "bình quân" ở giữa, lấy đó làm tâm, làm mục tiêu để hướng cả cái Muốn lẫn cái Được đến. Cái điểm "ở giữa" này là một điểm cân bằng động:
    Muốn↠ 👁 ↞Được
    • [↠↞] Nó chỉ kéo 2 cái Muốn & Được dần dần dịch chuyển tới gần nhau chứ không phải nhảy "bụp" một cái mà tới được;
    • [↻] Nó phải luôn được cập nhật theo sự biến chuyển của cả trong lẫn ngoài, chứ không phải là một cái mốc bất di bất dịch;
    • [👁] Khi tâm thức mình đặt ở "trung điểm" đó, lấy nó làm gốc mà quan sát mọi sự thì tâm ta được cân bằng, không vọng động ⇒ Dấu bằng trong đẳng thức "Muốn = Được" chỉ sự cân bằng chứ không có nghĩa là "giống hệt nhau"; Và khoảng cách giữa Muốn - Được đó chính là động lực, là năng lượng sống.
    Đó chính là viên ngọc báu mà ngài Trần Nhân Tông đã nói: "đối cảnh không động tâm". Ở đây "cảnh" gồm cả cảnh bên ngoài lẫn cảnh tâm bên trong, và "không động tâm" nghĩa là "định tâm" chứ không có nghĩa là cái tâm đó bị đông cứng lại như đá bất di bất dịch. Nhờ sự liên tục vận động trong cân bằng này mà tâm người giải thoát vừa vững chãi trước mọi nghịch cảnh, vừa tràn đầy tình thương vô điều kiện, chứ không phải "vô tâm", "vô cảm", "vô tri gỗ đá" như nhiều người mới tu tập lầm tưởng.

Tóm lại, "tùy duyên" hay "thuận tự nhiên" thì phải thuận cả cái tự nhiên bên trong, tức cái Muốn, lẫn cái tự nhiên bên ngoài, tức cái Được. Khi nhìn cả 2 cái Muốn & Được đó một cách bình đẳng, không thiên vị thì tự nhiên chúng sẽ dịch chuyển về điểm cân bằng. Cái nhìn đó trong đạo có nhiều tên nghe cao siêu khó hiểu như "cái nhìn Như thị" (có sao thấy vậy), "như lý tác ý" (ý muốn nảy ra hợp với nguyên lý của trời đất), "vô vi" (không cố làm mà mọi thứ đều được làm), "let it be" (cứ để nó xảy ra), "thuận theo ý Chúa", v.v. Nhưng mình thì thích dùng từ bình dân là "đối diện & chấp nhận". Với thái độ đối diện & chấp nhận, tâm ta bình lại, trí ta sáng ra thì sẽ thấy không chỉ cặp Muốn-Được mà nhiều cặp Âm-Dương khác cũng sẽ tự nhiên được dung hòa, cân bằng ngay ở chỗ được tia sáng trí tuệ quét qua. Đó chính là sự vi diệu của việc quan sát.

Tham khảo:

Nguyên bản Hán văn bài phú "Cư Trần Lạc Đạo" (Ở Đời Vui Đạo) của Trần Nhân Tông:
居塵樂道且隨緣
饑則飧兮困則眠
家中有宝休寻覓
对鏡無心莫問禪
(Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xa hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm[*] mạc vấn thiền)

Ký sự:

Cái duyên đưa mình tới bài viết này là do mình chứng kiến sự lập trình của gia đình & xã hội áp lên con người quá hiệu quả: Sau mười mấy năm, một đứa trẻ đầy câu hỏi đã không còn biết hỏi là gì nữa, một đứa trẻ luôn mở to mắt quan sát mọi thứ đã sụp mắt suốt ngày chăm chăm vào những món đồ công nghệ, một con người 90% (10% thú) đã biến thành một con robot 90% (5% thú, 5% người).

Tuesday, March 30, 2021

3 cấp độ Định

Khi nói tới "định", ta thường nghĩ tới sự tập trung tư tưởng, như trạng thái tâm đạt được thông qua thực hành thiền chỉ (śamatha, concentration meditation). Nhưng ở đây mình dùng chữ "định" (samādhi) để nói tới trạng thái tâm cân bằng ("xả", equanimity), mềm dẻo, trong sáng, vững chắc trước mọi hoàn cảnh, giống như tâm đạt được nhờ thực hành Tứ thần túc. Nếu thiền chỉ (śamatha) tương đương với cấp đầu tiên "tĩnh định", thì 2 cấp sau "động định" và "thức định" là khả năng định tâm cần thiết để thiền quán (vipassanā) nhằm phát huy trí tuệ sáng suốt trong cuộc sống hằng ngày.

  1. Tĩnh định (định vào cái tĩnh, absorption into the static, ◯):
    Đầu tiên là định tâm vào một đối tượng tĩnh, như hình vẽ, vòng tròn, quang cảnh, một điểm trên cơ thể, v.v. Đây là cách nhiếp tâm, trói tâm vào một đối tượng tĩnh để cho nó yên lặng lại, và thường được áp dụng cho người mới tập thiền. Kế tiếp, hành giả ngồi thiền hoặc đi thiền tập trung vào một đối tượng chuyển động lặp đi lặp lại như hơi thở, câu niệm phật, tiếng mõ, bước chân, v.v. Tuy đối tượng "động" nhưng vì lặp đi lặp lại nên cũng chỉ là một vòng tròn và vẫn thuộc về "tĩnh định". Tập tĩnh định là để tâm được định tĩnh, yên lặng, bình tĩnh, nên còn được gọi là "an chỉ định" (appanā samādhi) theo ngài Phật Âm (Buddhaghoṣa) trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo. Đây là trạng thái định đạt được nhờ "giới": tránh những thứ làm loạn tâm, tập trung vào những thứ giúp tâm thanh tịnh.

  2. Động định (định vào cái động, absorption into the dynamic/flow, ↑):
    Đây là khả năng nhập tâm vào luồng vận động bên ngoài cũng như bên trong, thực hiện các hoạt động phức tạp của cả thân lẫn tâm một cách nhuần nhuyễn, bền bỉ, tập trung, và đầy năng lượng tích cực. "Động định" tương đương với trạng thái "flow" trong tâm lý học hiện đại, và có thể được luyện tập qua Tứ thần túc, thể hiện rõ ở "tâm thần túc". Nếu tĩnh định là sự vững chắc như bàn thạch thì động định là sự mềm dẻo nhưng mạnh mẽ như cây roi mây hay như dòng nước. Đây là trạng thái định đạt được nhờ "quán": tập trung quan sát luồng vận động không ngừng của cả ngoại cảnh lẫn nội cảnh.

  3. Thức định (định vào cái thức, absorption into the consciousness, 👁/=):
    Đây là trạng thái tâm cân bằng ("xả", equanimity), mềm dẻo, trong sáng, vững chãi đối diện với bất kỳ điều gì xảy ra "trước mắt". Thức định có thể được luyện tập qua Tứ thần túc, thể hiện rõ ở "quán thần túc". Nếu trong cuộc sống viễn ly (xuất gia), lúc nào ta cũng có thể dừng lại để tĩnh định, và trong dòng đời hối hả, lúc nào ta cũng có thể nhập vào dòng chảy để động định, thì khi gặp nghịch cảnh hoặc phải giải quyết những vấn đề nan giải, đầy hỗn loạn, cách tốt nhất là ta thức định bằng cách đối diện với tất cả những gì ta đang "thấy" (đang nhận thức được) với tâm chấp nhận & buông xả. Khi chấp nhận được thì ngay giữa biển hỗn loạn đó nổi lên một hòn đảo bình yên, tịch tĩnh, như mắt bão ở giữa cơn bão tố cuồng phong vậy. Ở hòn đảo tịch tĩnh mà nhà phật gọi là "niết bàn" (nirvāṇa) đó, ta có thể giữ "tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến", hoặc có thể dịch chuyển đi một cách uyển chuyển bằng cách hướng tâm hơi lệch khỏi tâm hòn đảo về phía cần di chuyển. Sự dịch chuyển này cần phải làm hết sức khéo léo và tinh tế, vì điểm cân bằng đó mỏng manh như sợi chỉ mành giăng giữa không trung, hay như các tập hợp fractal vậy. Để giữ được thức định trên "sợi chỉ" mỏng manh đó, ta cần buông xả các quan niệm, định kiến, khái niệm,... để làm mịn cái thức đến mức vô ngã, biến nó thành trí tuệ = vô ngã thức. Đây là trạng thái định đạt được nhờ "xả": không bám chấp vào cả cảnh lẫn tâm, không tập trung cũng không ly tán.
    Xem thêm bài "Chấp nhận được là tình thương" về những trải nghiệm trong đời của mình.

Wednesday, March 10, 2021

Chữ Quốc ngữ & chữ Nôm

« 倅 𢞅 㗂 越 㗂 圭 茄 »
“Tôi yêu tiếng Việt tiếng quê nhà !”

Thuở nhỏ mình thấy ngài Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) được tôn vinh như cha đẻ của chữ quốc ngữ (chữ QN) thì cứ nghĩ rằng nó được sáng tạo hoàn toàn bởi một người Pháp. Nhưng sau này khi nghiên cứu và thảo luận với các bậc cao Nôm ở Viện Việt Học thì mình mới được biết rằng đó là công sức tập thể của cả những cố đạo phương Tây (Bồ-Pháp) lẫn nhiều người Việt. Nhưng danh tính của những người Việt đó thì chẳng được ai biết tới. Hôm nay mình viết bài này hòng dung hòa giữa 2 cực đoan: Có người vinh danh chữ QN mà lại cố tình lờ đi chữ Nôm (𡨸 喃), một sáng tạo độc đáo của dân tộc; Có người lại bảo chữ QN là chữ của bọn xâm lăng!

Nhận xét

  • Chữ Nôm đã được sáng tạo và phát triển cả ngàn năm trước chữ QN với nhiều tác phẩm và tinh hoa của dân tộc. Tuy nhiên, cũng như chữ Hán, chữ Nôm khó học hơn nhiều so với chữ QN, và đó là rào cản lớn cho những ai muốn tiếp cận di sản khổng lồ này. Tuy nhiên, bước sang thiên niên kỷ thứ 3 này, việc học, tra cứu và đọc viết chữ Nôm đã trở nên thuận tiện hơn nhiều với sự hỗ trợ của máy tính và mạng Internet. Đây là cơ hội để chúng ta giúp chữ Nôm được hồi sinh (xem các trang web và công cụ chữ Nôm ở cuối bài).
  • Các cố đạo phương Tây có công lớn trong việc sáng tạo chữ QN, đáng được vinh danh, với đạo lý "ăn quả nhớ kẻ trồng cây!" Dù cho mục đích của việc sáng tạo đó là phục vụ cho công cuộc truyền đạo, nhưng không thể vì đó mà phủ nhận tâm huyết của họ đối với tiếng Việt.
  • Cùng với hệ tư tưởng chung của Công giáo La-mã đương thời, các giáo sỹ nói chung và Đắc Lộ nói riêng đã không tránh khỏi tư tưởng coi Công Giáo là thượng đẳng dẫn tới việc miệt thị các tôn giáo khác và tín ngưỡng dân gian. Điều đó thể hiện rõ trong tác phẩm "Phép giảng tám ngày" của Đắc Lộ: miệt thị Phật Thích Ca, đả phá tục cúng cơm cho tổ tiên, v.v. Điều này gây cản trở lớn trong việc nhìn nhận công lao của ông trong công cuộc hình thành chữ QN. Tuy nhiên ta nên phân biệt rõ công & tội.
  • Từ thời Pháp thuộc, nhiều nhà tri thức và cách mạng người Việt cũng ủng hộ chữ QN vì tính tiện dụng của nó khiến cho các tầng lớp bình dân đều có thể tiếp cận được tri thức.

Lược sử


Thời trung cổ: Ngàn năm hình thành và phát triển chữ Nôm

  • Từ thế kỷ 10, sau chiến thắng của Ngô Quyền kết thúc 1000 năm bắc thuộc, người Việt Nam đã bắt đầu sáng tạo ra chữ Nôm để ghi âm tiếng Việt (thuần Việt chứ ko phải Hán-Việt): Chữ Nôm có thể mượn chữ Hán như lấy chữ 沒[một] để đếm "một, hai, ba", dù nó vốn là chữ Hán có nghĩa "chìm mất", như trong từ "mai một"(埋沒). Nhưng cũng có nhiều chữ được chế ra để ghi những âm hoàn toàn không có trong tiếng Hán-Việt, như 𠄩[hai], 𠀧[ba] (số 3), 爸[ba] (ba má), v.v.
  • Đến Nhà Trần ở TK 13 thì đã bắt đầu có những tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm. Thời đó cũng có Hàn Thuyên là nhân vật nổi tiếng làm thơ Nôm. (Ông Thuyên vốn có họ Nguyễn, nhưng do vua thấy ông giỏi sánh ngang với Hàn Dũ nhà Đường nên đặt cho ông là "Hàn Thuyên".)
  • Nhà Hồ ở TK 14 đã có nhiều nỗ lực dùng chữ Nôm làm chữ chính thức, như dịch kinh sách Nho giáo ra chữ Nôm, soạn thơ Nôm để giảng nghĩa Kinh Thi, v.v.
  • Từ nhà Lê (sơ) ở TK 15, các tác phẩm chữ Nôm bắt đầu nở rộ, nổi tiếng như "Quốc âm thi tập" của Nguyễn Trãi, "Hồng Đức quốc âm thi tập" của vua Lê Thánh Tông và hội Tao đàn Nhị thập bát Tú, "Bạch Vân quốc ngữ thi tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v. Thời đó đã có từ điển Hán-Nôm, như cuốn "Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa".

Thời cận đại: Giao thoa giữa chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.

Thế kỷ 17:
  • Thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, văn học Công Giáo được viết chủ yếu bằng chữ Nôm. Nhưng song song đó, chữ QN cũng dần được hình thành dựa trên chữ cái Latinh.
  • Francisco de Pina là giáo sỹ Bồ Đào Nha đã sáng tạo nền tảng cơ bản của chữ QN ở giai đoạn đầu.
  • Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) là giáo sỹ Pháp đã hệ thống hóa. chỉnh lý và định chế chữ QN qua cuốn tự điển Việt-Bồ-La (VN - Bồ Đào Nha - Latinh), cuốn tự điển tiếng Việt bằng chữ QN đầu tiên.
  • Các giáo sỹ phương Tây khác như Francesco Buzomi, Christoforo Borri, Girolamo Maiorica, Antonio de Fontes, và nhiều người Việt khác đã đóng góp trong quá trình phát triển của chữ QN.
Thế kỷ 18:
  • Pierre Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), Jean-Louis Taberd và các giáo hữu Đàng Trong đã chỉnh lý chữ QN thành dạng gần với chữ QN ngày nay.
  • Văn học chữ Nôm phát triển cực thịnh với nhiều tác phẩm nổi tiếng cho tới ngày nay như hằng trăm bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, và của Bà Huyện Thanh Quan, "Chinh phụ ngâm" của Đoàn Thị Điểm, "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu, cùng nhiều tác phẩm khuyết danh khác như "Thạch Sanh", "Trê Cóc", "Nhị độ mai", "Tấm Cám", "Lưu Bình Dương Lễ", v.v.
  • Nhà Tây Sơn ở cuối TK 18 đã chính thức (bắt buộc) dùng chữ Nôm trong văn bản hành chính để nêu cao tinh thần tự chủ của nước ta.

Thời hiện đại: Chữ QN dần thay thế chữ Nôm.

Thế kỷ 19:
  • Năm 1838, cuốn từ điển Việt-Latinh "Nam Việt – Dương Hiệp Tự vị" được xuất bản, trong đó tiếng Việt được viết bằng cả chữ Nôm và chữ QN.
  • Năm 1869, Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định "bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán". Từ đó, sau 2.5 thế kỷ hình thành phát triển và lưu truyền, chữ QN được chính thức sử dụng và được phổ biến.
Thế kỷ 20:
  • Năm 1915 đánh dấu sự kết thúc hoàn toàn của chữ Hán-Nôm qua kỳ thi Hương cuối cùng. Từ đó người Việt bắt đầu mù chữ Hán-Nôm.
  • Chính phủ Trần Trọng Kim (tháng 4-8/1945) dùng chữ QN làm chữ chính thức trong hành chính, văn hóa.
  • Sau đó, cả chính phủ VNDCCH (miền Bắc) lẫn VNCH (miền Nam) đều dùng chữ QN làm chữ viết chính thức.

Thời @ Internet: Bảo tồn và phục hồi chữ Nôm.

  • Năm 1993, chính phủ CHXHCNVN ban hành 2 bộ tiêu chuẩn mã hóa chữ viết là TCVN 5712:1993 mã hóa chữ QN dựa trên bảng mã ASCII 8 bit, và TCVN 5773:1993 mã hóa chữ Nôm trong bảng mã 16 bit.
  • Năm 1991, bảng mã Unicode ra đời để mã hóa toàn bộ chữ viết của nhân loại. Ngay trong phiên bản đầu tiên, Unicode 1.0 (16 bit) đã bao gồm toàn bộ chữ cái của chữ QN cùng một số chữ Nôm.
  • Năm 2001, hơn 9 ngàn chữ Nôm được mã hóa trong bộ TCVN 6909:2001 và trong Unicode 2.0, trong đó khoảng một nửa là chữ thuần Việt (không trùng với chữ Hán).
  • Từ đầu TK 21 đến nay, các tổ chức và cá nhân đã và đang tích cực phục hồi chữ Nôm với hằng loạt từ điển, font chữ, phầm mềm gõ chữ, trang web: